hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Sau giai đoạn thí điểm, Đề án xây dựng vùng nguyên liệu nông, lâm sản đạt chuẩn phục vu tiêu chuẩn trong nước và xuất khẩu giai đoạn 2022 - 2025 đã chứng minh tư duy quản trị mới khi gắn chặt lợi thế sinh thái với hạ tầng đồng bộ. Tại Hội nghị Tổng kết Đề án này, Thứ trưởng Bộ NN&MT Trần Thanh Nam khẳng định đây là chìa khóa để kiến tạo giá t
Từ mảnh ghép rời rạc đến bản đồ nông sản định hình
Nông nghiệp Việt Nam đang chuyển mình từ tư duy sản xuất thuần túy sang kinh tế nông nghiệp, nơi mà mỗi tấc đất không chỉ gieo trồng theo bản năng mà phải được đặt trong một quy hoạch tổng thể và đầy tính toán. Nhìn lại hành trình 4 năm qua, những vùng đất vốn dĩ hoang hóa hay sản xuất manh mún đã thay da đổi thịt để trở thành những vựa trái cây, những cánh đồng lúa gạo đạt chuẩn quốc tế. Con số 170.000 ha tại 11 tỉnh, thành không chỉ là biểu đồ tăng trưởng về diện tích, mà còn là minh chứng cho sự hội tụ của nguồn lực và khát vọng.
Khi hơn 70% diện tích đã có sự gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp, chúng ta hiểu rằng nền nông nghiệp đang dần thoát khỏi lời nguyền được mùa mất giá nhờ việc tổ chức lại sản xuất theo hướng hàng hóa và bám sát hơi thở của thị trường.
Sự thành công này bắt nguồn từ việc xác định đúng cây trồng chủ lực cho từng vùng sinh thái đặc trưng. Ở vùng núi phía Bắc, những triền đồi xoài, nhãn, chuối không còn là sự tự phát mà được chuẩn hóa qua mã số vùng trồng để tiến thẳng vào các thị trường chính ngạch.
Tại Tây Nguyên, cây cà phê được nâng tầm bằng hệ thống hạ tầng đồng bộ từ đường nội đồng đến kho bãi, giúp giảm thiểu tổn thất và nâng cao hiệu suất chế biến. Trong khi đó, ở đồng bằng sông Cửu Long, lúa gạo vẫn giữ vai trò nền tảng nhưng được tối ưu hóa bằng hệ thống thủy lợi và mạng lưới giao thông giảm thiểu chi phí logistics. Sự phân vai rõ rệt này giúp mỗi vùng đất phát huy tối đa sở trường, biến lợi thế tự nhiên thành lợi thế cạnh tranh thực thụ trên bản đồ nông sản toàn cầu.
Không chỉ dừng lại ở biên giới quốc gia, tư duy xây dựng vùng nguyên liệu còn vươn tầm quốc tế với những đề xuất đầy triển vọng về việc phát triển bạch đàn và sắn tại Angola. Điều này cho thấy mô hình vùng nguyên liệu của Việt Nam không chỉ là một giải pháp tình thế mà đã trở thành một công thức vận hành có khả năng xuất khẩu.
Khi hạ tầng được đầu tư đúng điểm chạm, nó tạo ra lực đòn bẩy mạnh mẽ giúp giảm chi phí vận chuyển đến 30% và rút ngắn thời gian logistics xuống một nửa. Những con số biết nói về năng suất và giá trị trên mỗi hecta tăng trưởng mạnh mẽ chính là lời khẳng định đanh thép nhất cho tính đúng đắn của việc đầu tư trọng điểm thay vì dàn trải.
Cuộc cách mạng tổ chức và khát vọng tăng trưởng xanh
Nhìn vào bức tranh tổng thể, sự thay đổi lớn nhất có lẽ nằm ở sự chuyển dịch vai trò của các hợp tác xã. Từ những đơn vị sản xuất nhỏ lẻ, các hợp tác xã đã vươn mình trở thành những trung tâm điều phối, quản lý chất lượng và là nhịp cầu kết nối giữa nông dân với doanh nghiệp.
Tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua hợp tác xã tăng vọt lên gần 60% cho thấy niềm tin của người sản xuất vào mô hình kinh tế tập thể hiện đại. Những chuỗi liên kết dài hạn được thiết lập không chỉ mang lại sự ổn định về đầu ra mà còn tạo ra một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, nơi các thành phần kinh tế cùng chia sẻ lợi ích và rủi ro.
Cơ chế vốn mồi từ ngân sách nhà nước đã khơi thông dòng chảy đầu tư từ khu vực tư nhân và cộng đồng. Với một đồng vốn nhà nước dẫn dắt, chúng ta huy động được gấp sáu lần nguồn lực đối ứng, tạo nên một cộng đồng cùng chung tay xây dựng vùng nguyên liệu.
Sự hài lòng của những địa phương như Sơn La khi nhìn thấy các tuyến đường kết nối trực tiếp từ vùng trồng đến nhà máy chế biến là minh chứng cho một tư duy hạ tầng phục vụ trực tiếp sản xuất. Tuy nhiên, như lãnh đạo địa phương này đã thẳng thắn nhìn nhận, dư địa phát triển vẫn còn rất lớn nếu chúng ta có thể khép kín được chu trình sản xuất và mở rộng quy mô hơn nữa trong giai đoạn tới.
Thứ trưởng Trần Thanh Nam đã chỉ ra khoảng trống lớn nhất trong quy hoạch bấy lâu nay chính là việc chưa định vị rõ ràng cây trồng cho từng địa bàn. Đề án vùng nguyên liệu sinh ra để lấp đầy khoảng trống đó, hoàn thành sứ mệnh lịch sử trong việc định hình lại cơ cấu cây trồng quốc gia.
Bước sang giai đoạn mới, yêu cầu về mã số vùng trồng, thực hành nông nghiệp tốt và truy xuất nguồn gốc không còn là khuyến khích mà trở thành điều kiện tiên quyết. Nông nghiệp xanh giờ đây không chỉ là câu chuyện về môi trường, mà còn là câu chuyện về bảo hiểm nông nghiệp, về việc đảm bảo an sinh và nâng cao chất lượng sống cho người nông dân.
Tầm nhìn đến năm 2030 với mục tiêu 1,8 triệu ha vùng nguyên liệu trọng điểm là một tham vọng đầy thực tế. Ở đó, Nhà nước sẽ tập trung vào phần cứng là hạ tầng thiết yếu, còn doanh nghiệp sẽ nắm giữ phần mềm là quản trị và logistics. Sự phân vai khoa học này sẽ tạo ra những thương hiệu nông sản Việt Nam đủ sức đứng vững trước những tiêu chuẩn khắt khe nhất.
Mỗi vùng nguyên liệu được xây dựng sẽ là một viên gạch vững chắc để chúng ta xây dựng tòa nhà nông nghiệp hiện đại, nơi mà giá trị không chỉ nằm ở sản lượng mà còn nằm ở sự ổn định, minh bạch và lòng tự hào về những sản phẩm mang linh hồn của đất mẹ.