Thứ tư, 26/08/2026 11:19 (GMT+7)

Phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp xuất khẩu

Minh Anh

Kim ngạch xuất khẩu 7 tháng đầu năm 2026 đạt 319,7 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ, song cán cân thương mại vẫn nhập siêu khoảng 20,3 tỷ USD.

Phần lớn nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện là đầu vào cho sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư. Trong khi đó, tỷ lệ nội địa hóa ở nhiều ngành còn thấp, cho thấy doanh nghiệp Việt vẫn phụ thuộc đáng kể vào nguồn cung bên ngoài.

Từ nhập khẩu đầu vào đến năng lực xuất khẩu

Bức tranh thương mại 7 tháng đầu năm cho thấy xuất khẩu đang duy trì đà tăng trưởng cao. Kim ngạch đạt 319,7 tỷ USD, tăng 21,7% so với cùng kỳ và vượt mục tiêu tăng trưởng 15-16% đặt ra cho cả năm. Tuy nhiên, cán cân thương mại vẫn nhập siêu khoảng 20,3 tỷ USD. Diễn biến này phản ánh mức độ phụ thuộc đáng kể của hoạt động xuất khẩu vào nguồn nguyên liệu, linh kiện và thiết bị nhập khẩu.

Nhập siêu tập trung ở ba nhóm chính gồm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; xăng dầu, than; hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và kim loại thường. Trong đó, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện chiếm phần lớn giá trị nhập khẩu phục vụ sản xuất, kinh doanh và mở rộng đầu tư. Đây là dòng nhập khẩu gắn với năng lực sản xuất và có thể tạo thêm nguồn hàng cho xuất khẩu.

Điều này cần được nhìn rõ hơn tại các địa phương có dự án, nhà máy công nghệ cao đang tăng vốn. Lượng máy móc, linh kiện và nguyên liệu nhập về có thể tạo tiền đề cho việc mở rộng sản xuất, gia tăng công suất và đơn hàng xuất khẩu trong những tháng tới. Vì vậy, đánh giá nhập siêu cần gắn với khả năng đưa lượng nguyên liệu, linh kiện đã nhập vào sản xuất và tạo ra sản phẩm xuất khẩu. Giá trị nhập khẩu tự thân chưa phản ánh đầy đủ hiệu quả của dòng vốn này.

Nút thắt lại nằm rõ ở nhóm hóa chất, chất dẻo nguyên liệu và kim loại thường. Tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, công nghiệp hỗ trợ chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu sản xuất trong nước. Doanh nghiệp chưa chủ động được các đầu vào quan trọng sẽ tiếp tục phải dựa vào nguồn cung bên ngoài khi mở rộng sản xuất và xuất khẩu. Điều này làm tăng chi phí, kéo dài chuỗi cung ứng và hạn chế khả năng nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước.

Từ thực tế đó, hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp giai đoạn 2026–2030 cần được xây dựng trên nền tảng năng lực sản xuất. Công nghiệp hỗ trợ, logistics, tiêu chuẩn chất lượng và khả năng tham gia chuỗi cung ứng phải được đặt cùng với yêu cầu mở rộng thị trường. Doanh nghiệp muốn tăng xuất khẩu cần có năng lực đáp ứng đơn hàng ổn định, kiểm soát chất lượng và duy trì nguồn cung theo yêu cầu của đối tác.

Chủ trương phát triển hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp vươn ra thị trường quốc tế được đặt trong hướng tiếp cận này. Bộ Công Thương được giao phát triển hệ sinh thái giúp doanh nghiệp tiếp cận trực tiếp các hệ thống phân phối hiện đại, chuỗi bán lẻ quốc tế và triển khai Chương trình vươn ra thị trường quốc tế giai đoạn 2026–2030.

Với doanh nghiệp tư nhân, xúc tiến thương mại phải gắn với khả năng đáp ứng các yêu cầu của nhà nhập khẩu, từ chất lượng, kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc đến hồ sơ kỹ thuật. Các địa phương cũng được yêu cầu rà soát cụ thể những tiêu chuẩn và điều kiện doanh nghiệp trên địa bàn chưa đáp ứng để tập trung hỗ trợ. Khi các điểm thiếu hụt được xác định rõ, nguồn lực hỗ trợ mới có thể đi đúng vào những khâu đang cản trở khả năng mở rộng xuất khẩu.

Mở thị trường phải đi cùng tháo điểm nghẽn trong nước

Mở rộng thị trường là một hướng đi quan trọng khi chính sách thương mại của các đối tác lớn có nhiều thay đổi. Trong thời gian tới, Việt Nam dự kiến khởi động đàm phán với Khối thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), đồng thời tăng xúc tiến thương mại tại các thị trường Halal, Mỹ La-tinh và châu Phi. Các nhóm hàng được ưu tiên gồm điện tử, máy móc, nông sản và thủy sản.

Nhưng thị trường mới chỉ tạo ra cơ hội, khả năng tận dụng cơ hội phụ thuộc vào năng lực của doanh nghiệp. Với doanh nghiệp tư nhân, một trong những trở ngại là nguồn lực để đáp ứng các yêu cầu ngày càng phức tạp của thị trường nhập khẩu. Vì vậy, hệ sinh thái hỗ trợ cần tạo được sự liên kết giữa cơ quan quản lý, hiệp hội, doanh nghiệp và các đầu mối tại thị trường sở tại.

Bộ Ngoại giao được giao phát huy vai trò ngoại giao kinh tế, huy động mạng lưới cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài, cộng đồng người Việt và doanh nhân Việt Nam ở nước ngoài để kết nối doanh nghiệp trong nước với nhà nhập khẩu, hệ thống phân phối, chuỗi bán lẻ và đối tác sở tại. Đây có thể là kênh giúp doanh nghiệp tư nhân giảm khoảng cách thông tin khi tiếp cận những thị trường còn mới.

Ở trong nước, khả năng tiếp cận vốn và dòng tiền cũng cần được xử lý đồng thời. Bộ Tài chính được yêu cầu rà soát quy trình hoàn thuế giá trị gia tăng đối với hàng hóa xuất khẩu theo hướng tăng cường phân loại rủi ro, đẩy nhanh xử lý hồ sơ của doanh nghiệp chấp hành tốt pháp luật. Ngân hàng Nhà nước có giải pháp bảo đảm doanh nghiệp xuất khẩu tiếp cận tín dụng, trong đó ưu tiên vốn cho thu mua, tiêu thụ và xuất khẩu nông sản trong những tháng cuối năm.

Logistics có ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu. Trong giai đoạn cao điểm, việc tổ chức luồng ưu tiên tại các cảng, cửa ngõ logistics lớn và hạn chế chồng chéo trong thanh tra, kiểm tra sẽ giúp doanh nghiệp giảm thời gian, chi phí và chủ động hơn trong giao hàng. Cải cách thủ tục cũng cần gắn với hoạt động xuất khẩu. Các Bộ, ngành được yêu cầu đơn giản hóa quy trình, tăng liên thông dữ liệu, đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến và áp dụng quản lý rủi ro, qua đó giảm thời gian xử lý và chi phí cho doanh nghiệp.

Ở địa phương, các dự án, nhà máy công nghệ cao tăng vốn và nhập khẩu nhiều máy vi tính, sản phẩm điện tử, linh kiện cần được theo dõi sát tiến độ đưa nguyên liệu vào sản xuất và xuất khẩu. Doanh nghiệp cũng cần được cập nhật thường xuyên về biến động thị trường, hàng rào kỹ thuật và cơ hội từ các FTA.

Với doanh nghiệp tư nhân, mở rộng xuất khẩu vì thế phụ thuộc vào cả năng lực nội tại và khả năng tận dụng hệ sinh thái hỗ trợ. Chủ động hơn về nguyên liệu, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, tiếp cận vốn và kết nối với hệ thống phân phối sẽ giúp cơ hội thị trường chuyển thành đơn hàng ổn định. Khi các khâu từ sản xuất, vốn, logistics đến thị trường được kết nối hiệu quả, doanh nghiệp có thêm điều kiện nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Tái cơ cấu xuất khẩu từ con số kỷ lục đến giá trị thực chất

Tái cơ cấu xuất khẩu từ con số kỷ lục đến giá trị thực chất

Triển vọng xuất khẩu năm 2026 được đánh giá rất tích cực nhưng đi kèm áp lực tái cơ cấu, do đó, chuyển đổi từ chiều rộng sang chiều sâu là chìa khóa để gia tăng giá trị.
Xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản vượt 26,7 tỷ USD

Xuất khẩu Việt Nam sang Nhật Bản vượt 26,7 tỷ USD

Năm 2025 đánh dấu một cột mốc đáng chú ý trong quan hệ thương mại Việt Nam – Nhật Bản khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều vượt ngưỡng 50 tỷ USD.
Xuất khẩu hạt điều chạm ngưỡng lịch sử 5 tỷ USD: Thành tích và bài toán đặt ra

Xuất khẩu hạt điều chạm ngưỡng lịch sử 5 tỷ USD: Thành tích và bài toán đặt ra

Xuất khẩu hạt điều trong năm 2025 của Việt Nam đã vượt xa mức kỷ lục, tiệm cận và vượt ngưỡng 5 tỷ USD, bỏ xa mốc hơn 4 tỷ USD của các năm trước.
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam lần đầu vượt mốc 11 tỷ USD

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam lần đầu vượt mốc 11 tỷ USD

Trong bối cảnh kinh tế thế giới năm 2025 tiếp tục bất ổn khó lường, xuất khẩu thủy sản Việt Nam lần đầu thiết lập kỷ lục mới với kim ngạch hơn 11,34 tỷ USD.
Chiến lược xuất khẩu rau quả của Đông Nam Á đang chuyển dịch sang nâng cao giá trị

Chiến lược xuất khẩu rau quả của Đông Nam Á đang chuyển dịch sang nâng cao giá trị

 Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng toàn cầu ngày càng ưu tiên chất lượng, tính bền vững và khả năng truy xuất nguồn gốc, nhiều quốc gia Đông Nam Á đang điều chỉnh chiến lược xuất khẩu rau quả theo hướng bài bản hơn.