hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Giải ngân đầu tư công đạt 42,7% kế hoạch, tiền gửi dân cư vượt 11 triệu tỷ đồng và tín dụng tăng 8,98% trong 7 tháng đầu năm 2026.
Cùng với các chương trình tín dụng ưu đãi, dòng vốn đang được mở rộng để hỗ trợ sản xuất, kinh doanh, trong khi tiến độ giải ngân đầu tư công tiếp tục là yếu tố cần theo dõi.
Đến ngày 6/8, giải ngân vốn đầu tư công từ nguồn ngân sách nhà nước ước đạt 433.453,9 tỷ đồng, tương đương 42,7% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao.
Tổng kế hoạch vốn đầu tư công năm 2026 là 1.014.234,2 tỷ đồng, gồm 364.007,6 tỷ đồng vốn ngân sách trung ương và 650.226,6 tỷ đồng vốn ngân sách địa phương. Đến ngày 6/8, các bộ, cơ quan trung ương và địa phương đã phân bổ chi tiết 994.373,4 tỷ đồng, đạt 98% kế hoạch. Phần vốn ngân sách trung ương chưa phân bổ còn khoảng 19.860,8 tỷ đồng.

Tiến độ giải ngân giữa các đơn vị còn chênh lệch. Có 25 bộ, cơ quan trung ương và 12 địa phương có tỷ lệ giải ngân thấp hơn mức bình quân chung. Trong đó, 4 bộ, cơ quan trung ương có tỷ lệ giải ngân dưới 6%, thậm chí có đơn vị chưa giải ngân.
Nguyên nhân chủ yếu liên quan đến một số kế hoạch vốn mới được giao bổ sung trong tháng 6 và tháng 7, khiến các đơn vị cần thêm thời gian hoàn thiện thủ tục đầu tư. Một số đơn vị cũng đề xuất giảm kế hoạch vốn do không còn nhu cầu sử dụng để điều chuyển sang các đơn vị khác.
Với doanh nghiệp, tiến độ giải ngân đầu tư công tác động đến nhu cầu hàng hóa, dịch vụ và hoạt động đầu tư trong nhiều lĩnh vực. Việc đẩy nhanh giải ngân được Chính phủ đặt ra như một yêu cầu nhằm huy động thêm nguồn lực cho tăng trưởng.
Trong hệ thống ngân hàng, tiền gửi dân cư tiếp tục tăng mạnh. Đến cuối tháng 6/2026, tiền gửi của người dân vượt 11 triệu tỷ đồng, mức cao kỷ lục. Riêng tháng 6, tiền gửi dân cư tăng khoảng 242.000 tỷ đồng; tính chung 6 tháng đầu năm, mức tăng đạt khoảng 733.000 tỷ đồng.
Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt khoảng 6,37 triệu tỷ đồng, tăng gần 3,10% so với cuối năm 2025. Đến cuối tháng 7/2026, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Dòng vốn được định hướng vào các động lực tăng trưởng, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa được chú trọng.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) định hướng các tổ chức tín dụng triển khai chương trình cho vay với lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức bình quân cùng kỳ hạn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Văn bản số 7125/NHNN-TD yêu cầu các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho nhóm doanh nghiệp này và các động lực tăng trưởng. Thông tư 29/2026/TT-NHNN được nêu trong tài liệu với nội dung đơn giản hóa thủ tục và nâng hạn mức cho vay nhỏ tại các tổ chức tín dụng.
Các ngân hàng đã triển khai nhiều gói tín dụng theo định hướng này. Agribank có gói 70.000 tỷ đồng, giảm lãi suất 1-2%/năm. Vietcombank, BIDV và VietinBank mỗi ngân hàng triển khai gói 50.000 tỷ đồng, giảm tối thiểu 1%/năm. Sacombank dành khoảng 100.000 tỷ đồng cho khách hàng xuất nhập khẩu, với mức giảm 2%/năm. Nam A Bank triển khai gói 25.000 tỷ đồng, giảm tới 1,8%/năm. BVBank và LPBank cũng có các gói tín dụng hỗ trợ vốn lưu động và sản xuất, kinh doanh.
Các chương trình này làm gia tăng cạnh tranh về lãi suất, qua đó tạo thêm lựa chọn về vốn cho doanh nghiệp. Với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chi phí vay ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng bổ sung vốn lưu động, mở rộng sản xuất và triển khai kế hoạch đầu tư.
Tuy nhiên, khả năng tiếp cận vốn vẫn phụ thuộc vào điều kiện tín dụng và năng lực tài chính của từng doanh nghiệp. Vì vậy, hiệu quả của chính sách giảm lãi suất còn gắn với khả năng hấp thụ vốn và nhu cầu vay thực tế.
Tỷ lệ tiền gửi không kỳ hạn (CASA) bình quân cũng giảm từ 15,4% cuối năm 2025 xuống 14,7% vào cuối tháng 6/2026. Theo tài liệu, mức giảm này phản ánh áp lực cân đối vốn khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động, khiến các ngân hàng phải cạnh tranh mạnh hơn để thu hút nguồn vốn có chi phí thấp.
Trên thị trường tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 11.592,78 tỷ đồng khỏi hệ thống trong tuần. Lãi suất VND liên ngân hàng giảm ở hầu hết kỳ hạn. Tỷ giá trung tâm chốt tuần ở mức 25.561 đồng, trong khi tỷ giá tại các ngân hàng thương mại và thị trường tự do có xu hướng giảm.
Thị trường vàng trong nước biến động mạnh. Vàng miếng SJC có thời điểm lên 144,3 triệu đồng/lượng, sau đó giảm khoảng 1 triệu đồng/lượng trước khi chốt tuần ở mức 141,3-144,3 triệu đồng/lượng. Vàng nhẫn SJC giao dịch quanh 139,8-142,8 triệu đồng/lượng, còn nhẫn tròn DOJI ở mức 140-144 triệu đồng/lượng. Chênh lệch giá mua - bán được duy trì khoảng 3 triệu đồng/lượng.

Trên thị trường quốc tế, CPI (chỉ số giá tiêu dùng) tháng 7 của Mỹ tăng 3,4% so với cùng kỳ, trong khi doanh số bán lẻ giảm 0,6%. GDP quý II/2026 của khu vực Euro tăng 1,0% so với cùng kỳ; chỉ số Tankan của Nhật Bản đạt +18 điểm; CPI tháng 7 của Trung Quốc tăng 0,5%.
Thị trường tiếp tục theo dõi chính sách tiền tệ của các nền kinh tế lớn. Thị trường đánh giá gần 70% khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp tháng 9/2026, trong khi Ngân hàng Trung ương Nhật Bản có cơ sở tiếp tục thắt chặt chính sách. Giá dầu thế giới tăng hơn 5% trong tuần, đưa dầu Brent lên 88,52 USD/thùng; giá vàng thế giới tăng khoảng 1%, đạt 4.379,39 USD/ounce.
Với doanh nghiệp, lãi suất, tỷ giá và giá hàng hóa là những biến số tác động trực tiếp đến chi phí vốn và chi phí đầu vào. Trong khi đó, đầu tư công tạo thêm nhu cầu cho nhiều lĩnh vực nhưng hiệu quả còn phụ thuộc vào tiến độ giải ngân tại từng đơn vị.
Tính đến ngày 6/8, 433.453,9 tỷ đồng vốn đầu tư công đã được giải ngân; tiền gửi dân cư vượt 11 triệu tỷ đồng và tín dụng tăng 8,98% so với cuối năm 2025. Vấn đề đặt ra là tốc độ giải ngân và khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp, qua đó chuyển nguồn lực tài chính thành đầu tư và hoạt động sản xuất, kinh doanh.