Thứ ba, 26/05/2026 15:46 (GMT+7)

Khơi thông mạch vốn tri thức cho kinh tế bứt phá

Thiên Trường

Mở rộng hành lang pháp lý để chấp nhận quyền sở hữu trí tuệ và tài sản số làm tài sản bảo đảm giúp tháo gỡ điểm nghẽn dòng vốn cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.

Điểm nghẽn từ tư duy thế chấp truyền thống

Nền kinh tế số đang dịch chuyển với tốc độ chóng mặt, nơi các giá trị kinh tế không còn được đo lường duy nhất bằng đất đai, nhà xưởng hay máy móc hữu hình. Thế nhưng, hệ thống tiếp cận nguồn vốn tín dụng hiện nay vẫn đang vận hành dựa trên bệ đỡ cốt lõi là tài sản thế chấp truyền thống, trong đó bất động sản chiếm tỷ trọng áp đảo.

Ảnh minh họa

Thực tế này đang tạo ra một nghịch lý lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa, các start-up công nghệ và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo những chủ thể có năng lực bứt phá cao nhưng lại nghèo nàn về tài sản vật chất.

Nhiều doanh nghiệp công nghệ nội địa hiện đang sở hữu những kho tài sản vô hình vô cùng giá trị như phần mềm cốt lõi, cơ sở dữ liệu khách hàng quy mô lớn hay các giải pháp công nghệ đã được đăng ký bảo hộ độc quyền. Tuy nhiên, khi gõ cửa ngân hàng, các doanh nghiệp này gần như bị từ chối quyền tiếp cận dòng vốn chỉ vì thiếu những cuốn sổ đỏ làm vật bảo đảm.

Việc các tổ chức tín dụng chỉ tập trung vào tài sản hữu hình đang vô tình bó hẹp không gian phát triển của các doanh nghiệp dựa trên tri thức, làm suy giảm đi động lực sáng tạo và năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

Xoay quanh thực trạng này, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng, Giảng viên cao cấp tại Viện Thương mại và Kinh tế quốc tế thuộc Đại học Kinh tế quốc dân, nhận định rằng đề xuất cho phép sử dụng quyền sở hữu trí tuệ và quyền tài sản hợp pháp để bảo đảm tiền vay có ý nghĩa cực kỳ to lớn.

Cụ thể, phần lớn doanh nghiệp công nghệ có giá trị cốt lõi nằm ở công nghệ, dữ liệu, phần mềm, thương hiệu hoặc các sáng chế, nhưng những giá trị này lại chưa được hệ thống tín dụng nhìn nhận đầy đủ. Hệ quả là nhiều đơn vị sở hữu sản phẩm tốt, thị trường tiềm năng lớn vẫn phải đứng ngoài mạch vốn vì không có bất động sản để thế chấp.

Yêu cầu về một hạ tầng pháp lý đi trước

Dù chủ trương mở rộng danh mục tài sản bảo đảm nhận được sự kỳ vọng lớn từ cộng đồng doanh nghiệp, hành trình đưa chính sách này vào thực tế cuộc sống vẫn phải đối diện với những rào cản kỹ thuật rất lớn, đặc biệt là năng lực định lượng và xử lý rủi ro khi có nợ xấu phát sinh.

Việc chấp nhận tài sản số hay quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm là xu hướng tất yếu của một nền kinh tế trưởng thành

Dưới góc nhìn chuyên môn, TS. Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam, khẳng định việc chấp nhận tài sản số hay quyền sở hữu trí tuệ làm tài sản bảo đảm là xu hướng tất yếu của một nền kinh tế trưởng thành. Dẫu vậy, thách thức lớn nhất nằm ở chỗ hệ thống pháp luật chưa có cơ chế định giá và đăng ký giao dịch bảo đảm đồng bộ cho loại hình tài sản này.

Khác với bất động sản vốn có quy trình định giá và thanh khoản tương đối rõ ràng, các tài sản vô hình như dữ liệu, thuật toán hay sáng chế có biên độ biến động giá trị rất lớn và tính thanh khoản phức tạp. Nếu thiếu một bộ tiêu chí định giá chuẩn mực, các tổ chức tín dụng sẽ không thể mạnh dạn giải ngân.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, nhiều quốc gia phát triển đã vận hành thành công mô hình cho phép doanh nghiệp thế chấp quyền khai thác dữ liệu, tài sản trí tuệ hoặc thậm chí là dòng tiền dự kiến trong tương lai. Tuy nhiên, bệ đỡ cho sự thành công đó là một hệ thống định giá chuyên nghiệp độc lập và một cơ sở dữ liệu quốc gia cực kỳ minh bạch để giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

Đối với Việt Nam, con đường duy nhất để giải phóng nguồn lực vô hình này là phải sớm hoàn thiện khung pháp lý về tài sản số, cơ chế đăng ký quyền sở hữu, chuyển nhượng và xử lý tài sản khi có tranh chấp.

Song song với đó, việc thúc đẩy sự ra đời của các tổ chức trung gian chuyên nghiệp, các định chế định giá tài sản trí tuệ độc lập sẽ là chìa khóa quan trọng, giúp các ngân hàng thương mại có đủ công cụ kỹ thuật để đánh giá rủi ro, từ đó tự tin khơi thông dòng vốn vào huyết mạch của nền kinh tế tri thức.

Chuẩn hóa thị trường tài sản số theo hướng thận trọng, minh bạch

Chuẩn hóa thị trường tài sản số theo hướng thận trọng, minh bạch

Việt Nam đang chuẩn hóa thị trường tài sản số theo hướng thận trọng, minh bạch và bảo vệ nhà đầu tư. Trong bối cảnh đó, tài sản số không chỉ là một xu hướng công nghệ, mà đang trở thành một cấu phần mới cần được đặt đúng vị trí trong danh mục cá nhân, đòi hỏi kỷ luật quản trị rủi ro cao hơn.
Khung pháp lý về tài sản số, tiền số, tiền mã hoá: Từ cấm đến luật hoá

Khung pháp lý về tài sản số, tiền số, tiền mã hoá: Từ cấm đến luật hoá

Theo số liệu thống kê năm 2024 của Triple-A, một công ty Fintech được cấp phép bởi Cơ quan tiền tệ Singapore, số lượng người sở hữu tiền số (cryptocurrencies) đã đạt đến 562 triệu người, tăng 33% so với 420 triệu người vào năm 2023. Trong số đó, Việt Nam chiếm khoảng 17.4% dân số, tương ứng khoảng 17 triệu người [1].  
Tài sản số và tín chỉ carbon liệu có được thế chấp vay vốn

Tài sản số và tín chỉ carbon liệu có được thế chấp vay vốn

Hiện nay, các tổ chức tín dụng còn khá dè dặt trong việc chấp nhận tín chỉ carbon làm tài sản bảo đảm. Nguyên nhân chủ yếu là bởi loại tài sản này khó xác định giá trị ổn định, trong khi thị trường giao dịch tín chỉ carbon trong nước vẫn đang ở giai đoạn sơ khai, tiềm ẩn nhiều rủi ro cho bên nhận thế chấp…
Trung tâm thương mại tài sản số PolyNFT sẽ giúp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ngăn chặn hàng giả

Trung tâm thương mại tài sản số PolyNFT sẽ giúp bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và ngăn chặn hàng giả

PolyNFT là một dự án khởi nghiệp blockchain Việt Nam, xây dựng nền tảng "All in one" (tất cả trong một) ở lĩnh vực NFT. Nền tảng kết hợp của trí tuệ nhân tạo (AI), đúc NFT, Marketplace và tiếp thị liên kết được triển khai trên nhiều chuỗi blockchain. Sản phẩm của PolyNFT xây dựng nhằm phục vụ cho những người sáng tạo cá nhân, chủ sở hữu dự án và cho cả các nhà tiếp thị.
LS. Lê Quang Vinh: Những bài học kinh nghiệm khi mất tài sản sở hữu trí tuệ ở nước ngoài

LS. Lê Quang Vinh: Những bài học kinh nghiệm khi mất tài sản sở hữu trí tuệ ở nước ngoài

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng đầu tư vào thương hiệu trong nước, trong khi đó khi ra thị trường quốc tế lại trở thành vô danh, thậm chí bị “cướp” thương hiệu do bị các doanh nghiệp nước ngoài khác đăng ký trước. Điều này ảnh hưởng đến cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam.