hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Quyết định 1809/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 300.000 DNNVV có dư nợ tại các tổ chức tín dụng, đồng thời thúc đẩy thay đổi cách cấp tín dụng theo hướng dựa nhiều hơn vào dòng tiền và dữ liệu.
Khả năng tiếp cận tín dụng của DNNVV vẫn có khoảng cách lớn so với quy mô của khu vực này. Tính đến tháng 7/2026, Việt Nam có khoảng 914.000 doanh nghiệp SME, chiếm 94% tổng số doanh nghiệp. Tuy nhiên, chỉ khoảng 187.000 doanh nghiệp có dư nợ tại ngân hàng, tương đương 20,5%. Ở nhóm doanh nghiệp siêu nhỏ, tỷ lệ tiếp cận vốn chỉ 8,8%; nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa đạt khoảng 30,9%.
Nguyên nhân trước hết nằm ở khả năng đáp ứng điều kiện tín dụng. Nhiều DNNVV thiếu tài sản bảo đảm, lịch sử tín dụng và dữ liệu tài chính đủ chuẩn để ngân hàng đánh giá. Báo cáo tài chính chưa được chuẩn hóa, thông tin về doanh thu, thuế, bảo hiểm xã hội và dòng tiền chưa được kết nối thành một hệ thống thống nhất.

Cách thẩm định tín dụng truyền thống càng làm khoảng cách này rõ hơn. Khi tài sản bảo đảm vẫn là một cơ sở quan trọng để kiểm soát rủi ro, những doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh thực tế nhưng ít tài sản thế chấp khó tiếp cận vốn. Trong khi đó, dòng tiền, hợp đồng kinh doanh, đơn hàng và vị trí của doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng chưa được khai thác đầy đủ trong đánh giá tín dụng.
Vấn đề tiếp theo là sản phẩm và quy trình cho vay. DNNVV hoạt động trong nhiều ngành, quy mô và chuỗi giá trị khác nhau, nhưng sản phẩm tín dụng chưa đủ linh hoạt theo từng mô hình. Quy trình cho vay chưa được số hóa triệt để cũng làm tăng thời gian xử lý và chi phí tiếp cận vốn.
Như vậy, mở rộng tín dụng cho DNNVV không thể chỉ giải quyết bằng cách tăng hạn mức vốn. Nếu phương thức đánh giá doanh nghiệp không thay đổi, nguồn vốn vẫn khó đến được đúng nhóm có nhu cầu và khả năng sử dụng vốn hiệu quả.
Quyết định 1809/QĐ-TTg đưa vấn đề này vào trọng tâm của quá trình hiện đại hóa hệ thống ngân hàng giai đoạn 2026–2030, với định hướng lấy doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, làm trung tâm trong việc nâng khả năng tiếp cận vốn với chi phí hợp lý.
Thay đổi quan trọng được đặt ra là chuyển từ cách cấp tín dụng dựa nhiều vào tài sản bảo đảm sang đánh giá toàn diện hơn năng lực kinh doanh và dòng tiền của doanh nghiệp.
Theo Quyết định 1809, các tổ chức tín dụng được định hướng cải tiến quy định nội bộ, tăng cho vay dựa trên phương án sản xuất kinh doanh, khả năng mở rộng thị trường, chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng và dữ liệu thanh toán, dòng tiền thực tế. Các loại tài sản bảo đảm cũng được áp dụng linh hoạt hơn theo quy định pháp luật.
Muốn đánh giá tín dụng dựa trên dòng tiền, ngân hàng cần dữ liệu đủ rộng và đủ tin cậy. Vì vậy, Đề án đặt ra nhiệm vụ xây dựng Cơ sở dữ liệu DNNVV trong Hệ thống thông tin doanh nghiệp quốc gia. Dữ liệu được định hướng bao gồm doanh thu, lợi nhuận, dòng tiền, nghĩa vụ thuế, bảo hiểm xã hội, tiền lương, hóa đơn và các thông tin liên quan.

Nguồn dữ liệu phi truyền thống cũng được đưa vào chấm điểm tín dụng. Big Data và AI được định hướng khai thác dữ liệu viễn thông, bảo hiểm xã hội, điện, nước và dữ liệu ESG. Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, định danh điện tử cũng được kết nối để hỗ trợ đánh giá điểm khả tín.
Điểm cốt lõi của cách tiếp cận này là ngân hàng có thêm căn cứ để trả lời hai câu hỏi: doanh nghiệp đang hoạt động như thế nào và khả năng trả nợ thực tế ra sao. Khi dữ liệu về doanh thu, dòng tiền, nghĩa vụ tài chính và lịch sử giao dịch được kết nối, việc đánh giá doanh nghiệp có thể giảm phụ thuộc vào một loại tài sản duy nhất. Khoảng 162.000 SME đã hoạt động trên 5 năm nhưng chưa có dư nợ. Trong nhóm này, 49,7% có dòng tiền kinh doanh dương và 58% ghi nhận tăng trưởng doanh thu. Khoảng 51.000 doanh nghiệp đồng thời có dòng tiền dương và doanh thu tăng trưởng.
Đây là nhóm khách hàng cần được nhận diện bằng dữ liệu thay vì chỉ nhìn vào tài sản bảo đảm. Tuy nhiên, mở rộng tín dụng cũng không đồng nghĩa hạ chuẩn tín dụng. Ngân hàng vẫn phải sàng lọc rủi ro, trong khi doanh nghiệp phải nâng chất lượng quản trị và minh bạch tài chính.
Với doanh nghiệp, yêu cầu trước mắt là chuẩn hóa dữ liệu tài chính, quản trị dòng tiền và xây dựng lịch sử tín dụng rõ ràng. Với ngân hàng, yêu cầu là phát triển hệ thống phân tích dữ liệu, thiết kế sản phẩm theo chuỗi giá trị và số hóa quy trình cấp tín dụng.
Quyết định 1809 yêu cầu đẩy mạnh Kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp, mở rộng kênh tín dụng và nâng cao năng lực quản trị cho DNNVV. Mục tiêu 300.000 DNNVV có dư nợ vào năm 2030 đòi hỏi thay đổi cách ngân hàng đánh giá rủi ro và cách doanh nghiệp chứng minh năng lực tài chính. Tín dụng cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, dòng tiền và chuỗi giá trị, đi cùng quy trình số hóa.