Thứ sáu, 30/10/2026 09:01 (GMT+7)

Gỡ điểm nghẽn để doanh nghiệp nhỏ và vừa thụ hưởng chính sách

Phương Vi

Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp, nhưng khảo sát gần 500 doanh nghiệp cho thấy chỉ khoảng 9% đã tiếp cận, thụ hưởng chính sách hỗ trợ.

Tại nghị trường Quốc hội, các đại biểu đề nghị thay đổi cách thức triển khai, hoàn thiện kênh dẫn vốn và tiêu chí phân loại để chính sách thực sự đến được với doanh nghiệp.

Chính sách phải theo kịp nhu cầu phát triển của doanh nghiệp

Khảo sát gần 500 doanh nghiệp nhỏ và vừa của Bộ Tài chính cho thấy chỉ khoảng 9% doanh nghiệp đã tiếp cận, thụ hưởng chính sách hỗ trợ. Tỷ lệ này phản ánh những hạn chế trong khâu triển khai, kết nối và đưa chính sách đến doanh nghiệp.

Tại phiên thảo luận ở hội trường ngày 29/10, trong khuôn khổ Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI, đại biểu Phan Thị Thùy Linh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa, cho rằng hiệu quả của Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (sửa đổi) cần được đánh giá bằng số lượng doanh nghiệp thực sự đứng vững, phát triển và đóng góp cho nền kinh tế.

Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng điều hành nội dung thảo luận về dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa tháng 8/2026. Ảnh: xaydungchinhsach.chinhphu.vn

Đại biểu nhấn mạnh: “Nếu thiếu một kênh dẫn khả thi, rất có thể những doanh nghiệp cần hỗ trợ nhất, đôi khi lại là những doanh nghiệp khó tiếp cận chính sách nhất”.

Theo đại biểu, một trong những bất cập hiện nay là thời gian hỗ trợ chưa phù hợp với nhu cầu nâng cấp năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Để đáp ứng yêu cầu của khách hàng lớn, doanh nghiệp thường cần 1–2 năm cải tiến quy trình, hoàn thiện sản phẩm và kiểm định chất lượng. Trong khi đó, nhiều chương trình hỗ trợ chỉ tập trung vào 6 tháng cuối năm, chủ yếu thực hiện tư vấn, đào tạo và xúc tiến thương mại. Các hoạt động thiết thực như sản xuất thử, kiểm định sản phẩm chưa được triển khai tương xứng.

Đại biểu đề nghị chuyển từ hỗ trợ ngắn hạn sang cơ chế đồng hành trong 1–2 năm, gắn với lộ trình phát triển của doanh nghiệp. Ngay khi phê duyệt chương trình, cơ quan thực hiện cần xác định thời gian, kinh phí toàn giai đoạn, các mốc kết quả và đầu mối chịu trách nhiệm. Việc nghiệm thu phải căn cứ vào kết quả từng giai đoạn, làm cơ sở điều chỉnh hoặc dừng hỗ trợ khi không đạt yêu cầu.

Về kênh triển khai, đại biểu đề xuất hoàn thiện cơ chế đặt hàng các tổ chức đại diện doanh nghiệp đủ năng lực, bao gồm cả tổ chức đại diện doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ, tham gia kết nối và đưa chính sách đến đối tượng thụ hưởng. Việc lựa chọn đơn vị thực hiện phải công khai, minh bạch; thanh toán kinh phí gắn với kết quả nghiệm thu.

Các tổ chức đại diện doanh nghiệp cần tham gia trực tiếp vào quá trình phổ biến chính sách, hướng dẫn hoàn thiện hồ sơ và kết nối nguồn lực. Cơ chế này giúp khắc phục tình trạng doanh nghiệp thiếu thông tin, không biết đầu mối tiếp cận hoặc không đủ năng lực hoàn thiện thủ tục để nhận hỗ trợ.

Đối với cơ quan quản lý, đại biểu đề nghị đơn giản hóa thủ tục hành chính, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo trong tiếp nhận, xử lý hồ sơ. Việc cắt giảm các khâu trung gian, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cần được xem là yêu cầu trọng tâm khi tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Mở rộng tín dụng, làm rõ trách nhiệm thực thi

Khả năng tiếp cận vốn tiếp tục là một trong những điểm nghẽn lớn đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thiếu tài sản bảo đảm, dữ liệu tài chính chưa đầy đủ và phương án kinh doanh chưa đáp ứng yêu cầu thẩm định khiến nhiều doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn ngân hàng.

Đại biểu Nguyễn Văn Thân, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh, đánh giá việc dự thảo Luật đề cập đến cấp tín dụng dựa trên phương án kinh doanh, doanh thu, dòng tiền và dữ liệu giao dịch là hướng tiếp cận phù hợp với nhu cầu của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Tuy nhiên, đại biểu cho rằng quy định tại Điều 8 vẫn chủ yếu mang tính nguyên tắc, định hướng và khuyến khích. Nếu thiếu cơ chế triển khai cụ thể, trách nhiệm của tổ chức tín dụng, tiêu chí đánh giá và phương thức tiếp cận, doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận nguồn vốn.

Đại biểu kiến nghị giao Chính phủ hướng dẫn chi tiết, trong đó Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì tham mưu, tổ chức thực hiện các nội dung liên quan đến tín dụng, thông tin tín dụng và các mô hình tài chính thuộc thẩm quyền. Theo đại biểu, cần chuyển chủ trương mở rộng tín dụng thành cơ chế thực thi rõ ràng, có cơ sở triển khai và giám sát.

Quang cảnh phiên thảo luận tại hội trường chiều 29/10 - Ảnh: chinhphu.vn/Nhật Bắc

Ở góc độ bảo đảm tính liên tục của nguồn vốn, đại biểu Trần Đức Thuận, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Nghệ An, đề nghị làm rõ cơ chế chuyển tiếp khi sắp xếp, sáp nhập hoặc giải thể Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa và các quỹ bảo lãnh tín dụng tại địa phương.

Đại biểu nhấn mạnh dự thảo cần xác định trách nhiệm của cơ quan, tổ chức kế thừa đối với tài sản, nghĩa vụ và các cam kết hợp pháp; bảo đảm quyền lợi doanh nghiệp, tránh gián đoạn hỗ trợ trong quá trình sắp xếp. Cùng với đó, cần làm rõ cơ chế bảo lãnh hoặc chia sẻ rủi ro để doanh nghiệp có phương án kinh doanh khả thi nhưng thiếu tài sản bảo đảm vẫn có cơ hội tiếp cận vốn.

Đối với tài sản bảo đảm, đại biểu Trịnh Thị Tú Anh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Lâm Đồng, đề nghị tiếp tục hoàn thiện cơ chế định giá, đăng ký và xử lý tài sản vô hình, quyền sở hữu trí tuệ và các khoản phải thu. Việc xác thực, kết nối và chia sẻ dữ liệu cũng cần được quy định rõ để tổ chức tín dụng có cơ sở đánh giá khả năng trả nợ.

Những ý kiến này cho thấy việc mở rộng tín dụng cần đi cùng hạ tầng dữ liệu, cơ chế định giá tài sản và phân định trách nhiệm giữa các chủ thể cung ứng vốn. Nếu chỉ dừng ở việc khuyến khích ngân hàng cho vay theo dòng tiền hoặc phương án kinh doanh, khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp vẫn khó cải thiện đáng kể.

Hoàn thiện tiêu chí, tránh doanh nghiệp bị gián đoạn hỗ trợ

Dự thảo Luật quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa có số lao động bình quân năm trước không quá 300 người, tổng nguồn vốn không quá 150 tỷ đồng hoặc tổng doanh thu năm trước không quá 400 tỷ đồng.

Theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn, các mức tiêu chí được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định trước đây, đồng thời tính đến tốc độ tăng trưởng GDP, chỉ số lạm phát từ năm 2017 đến nay và tham khảo kinh nghiệm quốc tế. Dự thảo giao Chính phủ quy định cụ thể tiêu chí phù hợp với từng ngành, lĩnh vực.

Tuy nhiên, cách xác định quy mô doanh nghiệp vẫn cần được rà soát để bảo đảm tính ổn định và công bằng giữa các ngành nghề.

Đại biểu Đào Chí Nghĩa, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Cần Thơ, cho rằng doanh thu và lao động có thể biến động trong ngắn hạn, khiến quy mô doanh nghiệp thay đổi liên tục. Trong khi đó, dự thảo chưa quy định rõ cách xác định tổng nguồn vốn đối với doanh nghiệp hoạt động đa ngành và doanh nghiệp mới thành lập.

Đại biểu đề nghị nghiên cứu sử dụng số liệu bình quân trong một khoảng thời gian phù hợp, quy định rõ kỳ tính và căn cứ số liệu. Dự thảo cũng cần có hướng dẫn riêng đối với doanh nghiệp chưa hoạt động đủ thời gian theo quy định và cơ chế chuyển tiếp khi doanh nghiệp vượt ngưỡng trong thời gian đang thụ hưởng chính sách.

Bên cạnh đó, việc xác định đúng đối tượng thụ hưởng cần gắn với tính độc lập của doanh nghiệp, tránh tình trạng doanh nghiệp thuộc sở hữu hoặc chịu sự chi phối của tập đoàn lớn nhưng vẫn tiếp cận chính sách dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là nội dung cần được cơ quan soạn thảo tiếp tục rà soát trong quá trình hoàn thiện các quy định phân loại.

Giải trình tại nghị trường, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết dự thảo thiết kế 11 chính sách hỗ trợ chung và 4 chính sách hỗ trợ có trọng tâm. Định hướng của cơ quan soạn thảo là chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang tạo môi trường để doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển.

Về chính sách thuế, dự thảo kế thừa quy định tại Nghị quyết số 198/2025/QH15, theo đó doanh nghiệp được hỗ trợ trong 3 năm đầu kể từ khi được cấp phép hoạt động. Bộ trưởng cho rằng giai đoạn khởi đầu thường đặt doanh nghiệp trước nhiều khó khăn, do đó cần có thời gian để doanh nghiệp thích ứng, tồn tại và phát triển.

Đối với mặt bằng sản xuất, dự thảo mở rộng cơ chế cho phép chính quyền địa phương đầu tư hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp dành quỹ đất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo số liệu Bộ trưởng dẫn ra, từ khi Nghị quyết số 198/2025/QH15 có hiệu lực, đã có 110 khu công nghiệp dành đất với hạ tầng đầy đủ để thu hút nhóm doanh nghiệp này.

Trong mua sắm công, dự thảo quy định dành tối thiểu 20% kinh phí mua sắm công cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, ưu tiên các gói thầu có giá trị từ 20 tỷ đồng trở xuống. Gần một năm triển khai chính sách đã có gần 226.000 gói thầu dưới 20 tỷ đồng dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, với hơn 12.000 doanh nghiệp tham gia, tổng giá trị khoảng 126.000 tỷ đồng.

Bộ trưởng cũng cho biết, các giải pháp cải cách thủ tục hành chính đã giúp giảm 53% thời gian tuân thủ và 54% chi phí. Dự thảo tiếp tục hướng đến giảm chi phí thực hiện pháp luật, khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ thông tin, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo.

Các chính sách về thuế, tín dụng, mặt bằng và mua sắm công tạo thêm nguồn lực cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, hiệu quả cần được đánh giá bằng khả năng tiếp cận và kết quả hoạt động thực tế của đối tượng thụ hưởng.

Tỷ lệ 9% doanh nghiệp tiếp cận chính sách hỗ trợ cho thấy yêu cầu cấp thiết phải thay đổi phương thức triển khai. Luật cần quy định rõ đầu mối thực hiện, trách nhiệm của từng chủ thể, quy trình tiếp cận và cơ chế giám sát kết quả. Cùng với đó, các chính sách hỗ trợ phải có tính liên tục, phù hợp với chu kỳ đầu tư và lộ trình nâng cấp năng lực của doanh nghiệp.

Đây là cơ sở để chuyển trọng tâm từ ban hành chính sách sang tổ chức thực thi, tạo điều kiện để khu vực doanh nghiệp chiếm hơn 98% tổng số doanh nghiệp thực sự tiếp cận được nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Doanh nghiệp ngành gỗ tự tin giữ vững vị thế

Doanh nghiệp ngành gỗ tự tin giữ vững vị thế

Doanh nghiệp ngành gỗ đã có đơn hàng sản xuất đến hết nửa đầu năm 2026, tạo tín hiệu tích cực cho sản xuất, khẳng định vị thế trung tâm chế biến gỗ toàn cầu.
Gỡ vướng chính sách cho doanh nghiệp khoa học công nghệ

Gỡ vướng chính sách cho doanh nghiệp khoa học công nghệ

Vướng mắc về chính sách khiến doanh nghiệp khoa học công nghệ thụ hưởng ưu đãi chưa tương xứng tiềm năng, đòi hỏi những thay đổi đột phá chính sách.
Doanh nghiệp địa ốc trước bảng giá đất mới

Doanh nghiệp địa ốc trước bảng giá đất mới

Bảng giá đất mới hàng năm được kỳ vọng sẽ đưa giá đất tiệm cận hơn với thị trường, song thực tế cũng đang làm tăng áp lực chi phí cho doanh nghiệp.
Kinh tế xanh – Động lực cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam

Kinh tế xanh – Động lực cạnh tranh mới cho doanh nghiệp Việt Nam

Các chuyên gia cho rằng, kinh tế xanh không còn là khái niệm mang tính định hướng dài hạn, mà đang dần trở thành một yêu cầu mang tính bắt buộc đối với doanh nghiệp tham gia thị trường toàn cầu.
Thúc đẩy doanh nghiệp tham gia kinh tế xanh

Thúc đẩy doanh nghiệp tham gia kinh tế xanh

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng, tài nguyên thiên nhiên suy giảm và các hàng rào kỹ thuật carbon đang dần tái định hình trật tự kinh tế toàn cầu, kinh tế xanh không còn là một lựa chọn mang tính xu hướng mà đã trở thành con đường phát triển tất yếu.