hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Vướng mắc về chính sách khiến doanh nghiệp khoa học công nghệ thụ hưởng ưu đãi chưa tương xứng tiềm năng, đòi hỏi những thay đổi đột phá chính sách.
Thuật ngữ doanh nghiệp khoa học và công nghệ không còn xa lạ khi đã chính thức định hình từ gần 20 năm trước thông qua Nghị định 80/2007 của Chính phủ. Trải qua hai thập kỷ bồi đắp khung pháp lý, cộng đồng này được kỳ vọng trở thành những con sếu đầu đàn dẫn dắt nền kinh tế dựa trên tri thức.

Đặc biệt, với sự ra đời của Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW, vai trò của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được nâng tầm thành trụ cột chiến lược quốc gia. Thế nhưng, nhìn vào bức tranh thực tế, dường như có một khoảng cách khá xa giữa kỳ vọng của nhà quản lý và cảm nhận của người trong cuộc.
Hiện nay, mặc dù số lượng doanh nghiệp ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo tại Việt Nam đang tăng trưởng với tốc độ ấn tượng, nhưng tỷ lệ đơn vị nhận được Giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ lại tỷ lệ nghịch với xu thế đó. Đây là một nghịch lý cần được nhìn nhận thẳng thắn.
Theo TS. Nguyễn Quân, Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam, cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã đặt công nghệ vào vị trí trung tâm, song doanh nghiệp vẫn chưa thực sự mặn mà với các danh hiệu chính thức. Nguyên nhân chủ yếu nằm ở chỗ doanh nghiệp chưa thực sự cảm nhận được lợi ích thiết thực từ các chính sách ưu đãi của Nhà nước, nhất là về thuế, đất đai và tín dụng.
Bên cạnh đó, thủ tục hành chính còn phức tạp, hướng dẫn thiếu cụ thể khiến nhiều doanh nghiệp e ngại khi tiếp cận. Khi những ưu đãi nằm trên giấy còn rào cản lại nằm ngay ở cửa ngõ hành chính, việc doanh ngđhiệp đứng ngoài cuộc chơi là điều dễ hiểu.
Câu chuyện không chỉ dừng lại ở thủ tục, đối với những người trực tiếp chèo lái doanh nghiệp như bà Trần Thanh Việt, CEO VGreen, nền tảng khoa học công nghệ là chìa khóa để xây dựng niềm tin và mở ra dư địa phát triển dài hạn. Tuy nhiên, hành trình để đạt được điều đó đầy rẫy chông gai.
Bà Việt cho rằng, quá trình triển khai chính sách hiện nay vẫn vấp phải rào cản lớn do thiếu thông tin chính thức và khó khăn trong việc chuẩn bị hồ sơ khoa học chuyên sâu. Nguồn lực cho hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) luôn là bài toán đau đầu, trong khi năng lực hấp thụ công nghệ của các đơn vị nội địa lại không đồng đều.
Sự lệch pha này cho thấy thể chế đang chậm chân hơn so với sự vận động của thị trường. Khoa học không thể chỉ là một mục tiêu nằm trong báo cáo, mà như bà Trần Thanh Việt nhấn mạnh, nó cần được đặt ở vị trí trung tâm trong toàn bộ vòng đời dự án đầu tư, từ khâu tư vấn, thẩm định cho đến tổ chức thực hiện. Chỉ khi nào thể chế thực sự trở thành bệ phóng thay vì là lực cản, chúng ta mới có thể hy vọng vào một hệ sinh thái đổi mới sáng tạo thực thụ.
Để tháo gỡ những nút thắt đã tồn tại hàng thập kỷ, các chuyên gia đều thống nhất rằng không thể chỉ sửa đổi một vài thông tư hay nghị định mang tính chất chắp vá. Thay vào đó, cần một tư duy tiếp cận mới, lấy doanh nghiệp làm trung tâm và sự tinh gọn làm phương châm hành động.

Trước hết, việc đơn giản hóa thủ tục hành chính là yêu cầu tiên quyết. Các cơ quan quản lý cần chuyển đổi từ tư duy kiểm soát sang tư duy phục vụ theo hướng cầm tay chỉ việc, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp khởi nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ vốn có tiềm lực tài chính lẫn nhân sự mỏng.
Một trong những chìa khóa quan trọng khác là cơ chế tài chính. Tài sản lớn nhất của doanh nghiệp công nghệ chính là tài sản trí tuệ, nhưng đây lại là loại tài sản khó định giá nhất trong hệ thống ngân hàng hiện nay.
Do đó, việc hình thành các quỹ đầu tư mạo hiểm chấp nhận rủi ro được xem là yếu tố then chốt. Nếu không có cơ chế chấp nhận thất bại trong nghiên cứu khoa học, doanh nghiệp sẽ mãi mãi e dè trong việc đầu tư cho những ý tưởng đột phá.
Phân tích sâu hơn về hệ thống chính sách, TS. Phạm Thế Dũng từ Hội Tự động hóa Việt Nam cho biết các cơ chế hỗ trợ hiện hành thực tế đã được thiết kế khá bao trùm. Từ việc nâng cao năng lực chuyển đổi số đến hỗ trợ tài chính cho chuyển giao công nghệ và gia tăng giá trị sở hữu trí tuệ, tất cả đều đã có khung định hướng.
Tuy nhiên, để các chính sách này thực sự đi vào cuộc sống, cần một sự kết nối chặt chẽ giữa ba chủ thể: Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp. Đây là mô hình xoắn ốc ba bên kinh điển nhưng vẫn luôn mới mẻ trong bối cảnh thực thi tại Việt Nam.
Ông Dũng khẳng định, ngoài sự hoàn thiện cơ chế từ phía Nhà nước, bản thân doanh nghiệp cũng cần chủ động nâng cao năng lực nội tại để có đủ sức hấp thụ các nguồn lực hỗ trợ. Ở góc độ tổ chức xã hội nghề nghiệp, Hội Tự động hóa đã và đang triển khai nhiều hoạt động đồng hành thiết thực, từ tư vấn hình thành doanh nghiệp đến xây dựng chuỗi sản phẩm và kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Những nỗ lực này nhằm mục tiêu biến các doanh nghiệp tự động hóa thành đầu mối triển khai các công nghệ lõi cho nền kinh tế.
Sự bứt phá của doanh nghiệp khoa học công nghệ không chỉ mang lại lợi nhuận cho chính họ mà còn là động lực để Việt Nam thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Khi những rào cản về thuế, đất đai và thủ tục được gỡ bỏ một cách thực chất, dòng vốn tri thức sẽ tự động chảy vào sản xuất kinh doanh. Việc tháo nút thắt thể chế lúc này không đơn thuần là nhiệm vụ hành chính, mà là mệnh lệnh từ thực tiễn để củng cố sức mạnh nội sinh của dân tộc trong kỷ nguyên số.