hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Cắt giảm 8.987 ngày giải quyết thủ tục hành chính, tiết kiệm khoảng 5.310 tỷ đồng chi phí tuân thủ, bãi bỏ 108 thủ tục và 13 ngành nghề kinh doanh có điều kiện là những kết quả đáng chú ý của ngành Nông nghiệp và Môi trường trong giai đoạn 2025-2026.
Trong bối cảnh Chính phủ đặt mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, cải cách thể chế tiếp tục được xem là giải pháp có tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đối với lĩnh vực nông nghiệp và môi trường, nơi tập trung hàng triệu hộ sản xuất cùng hàng chục nghìn doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến, xuất khẩu và môi trường, việc cắt giảm thủ tục hành chính không đơn thuần là cải cách quản lý nhà nước mà còn là giải pháp giảm chi phí cho toàn bộ nền kinh tế.

Tại Diễn đàn đối thoại về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, những kết quả cải cách được công bố cho thấy quy mô thay đổi khá lớn. Tổng thời gian giải quyết thủ tục hành chính đã được cắt giảm 8.987 ngày, tương đương giảm 53,39%. Chi phí tuân thủ được tiết kiệm khoảng 5.310 tỷ đồng, giảm 54,73% so với trước đây.
Cùng với đó, số lượng thủ tục hành chính đã giảm từ 650 xuống còn 555 thủ tục. Riêng số thủ tục thuộc thẩm quyền cấp Bộ giảm từ 267 xuống còn 148 thủ tục, chỉ còn chiếm 26,67% tổng số thủ tục hiện hành. Trong giai đoạn 2025-2026, Bộ đã thực hiện phân quyền, phân cấp 58 thủ tục thuộc 9 lĩnh vực; bãi bỏ 108 thủ tục thuộc 16 lĩnh vực và đơn giản hóa 88 thủ tục thuộc 10 lĩnh vực.
Đối với điều kiện kinh doanh, 13 trong tổng số 40 ngành nghề kinh doanh có điều kiện đã được bãi bỏ, đồng thời phạm vi quản lý của 3 ngành nghề khác được thu hẹp. Tỷ lệ cắt giảm điều kiện kinh doanh đạt 36,25%, vượt mức yêu cầu tối thiểu 30% theo chỉ đạo của Trung ương.
Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp, mục tiêu của quá trình cải cách không phải chỉ là chuyển thủ tục từ Bộ về địa phương mà phải tạo thuận lợi thực chất cho người dân và doanh nghiệp. Ông nhấn mạnh: “Điều chúng tôi hướng tới không chỉ là chuyển thủ tục từ Bộ xuống địa phương mà quan trọng hơn là phải làm cho hồ sơ đơn giản hơn, giảm tối đa giấy tờ, giảm gánh nặng tuân thủ cho doanh nghiệp”.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy dư địa cải cách vẫn còn rất lớn. Qua tổng hợp gần 800 kiến nghị của doanh nghiệp, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chỉ ra 7 nhóm vấn đề lớn đang ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư và sản xuất kinh doanh.
Theo VCCI, nhiều quy định dù đã được luật hóa nhưng thiếu hướng dẫn kỹ thuật hoặc thiếu công cụ để doanh nghiệp thực hiện. Không ít quy định còn thiếu thống nhất giữa các văn bản pháp luật hoặc được áp dụng khác nhau tại các địa phương, làm gia tăng rủi ro pháp lý cho doanh nghiệp. Chi phí tuân thủ liên quan đến môi trường, ký quỹ và các yêu cầu kỹ thuật vẫn ở mức cao, trong khi một số điều kiện kinh doanh còn thiếu minh bạch và khả năng dự báo.
Điểm đáng chú ý tại diễn đàn là sự đồng thuận khá cao giữa cơ quan quản lý và cộng đồng doanh nghiệp về yêu cầu đổi mới phương thức quản lý theo hướng giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm và quản lý dựa trên rủi ro.

Đại diện Coca-Cola Việt Nam, bà Bùi Đặng Duyên Mai phản ánh những khó khăn trong thủ tục giải ngân các nguồn tài trợ quốc tế cho các chương trình phát triển nông nghiệp. Theo bà, cùng một dự án nhưng thời gian xử lý tại các địa phương có sự chênh lệch rất lớn, có nơi mất khoảng 6 tháng nhưng cũng có địa phương kéo dài gần một năm. Doanh nghiệp kiến nghị các bộ, ngành tăng cường phối hợp để đơn giản hóa quy trình và rút ngắn thời gian giải ngân nhằm tránh bỏ lỡ cơ hội triển khai dự án.

Trong lĩnh vực giống cây trồng và vật tư nông nghiệp, đại diện CropLife Việt Nam đề nghị xây dựng cơ sở dữ liệu công khai về các giống cây trồng đã đăng ký để doanh nghiệp dễ dàng tra cứu, tránh trùng lặp tên giống. CropLife cũng kiến nghị làm rõ cơ chế giảm kiểm tra nhà nước đối với hàng hóa nhập khẩu và xây dựng cơ chế quản lý riêng đối với thuốc bảo vệ thực vật sinh học thay vì áp dụng chung với các nhóm hóa học truyền thống.
Đại diện Hiệp hội Sữa Việt Nam, ông Tống Xuân Chinh cho rằng việc bắt buộc kiểm dịch đối với tất cả các loại sữa, kể cả sữa lỏng và sữa bột đã qua xử lý nhiệt khép kín, chưa phù hợp với nguyên tắc quản lý rủi ro. Theo Hiệp hội, việc áp dụng kiểm dịch đại trà đang làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp mà không tạo thêm nhiều giá trị trong công tác quản lý. Hiệp hội đề xuất chỉ áp dụng kiểm dịch đối với sữa tươi nguyên liệu.
Ông Chinh cũng phản ánh những lo ngại phát sinh sau quá trình sắp xếp đơn vị hành chính khi một số giấy tiếp nhận đăng ký bản công bố sản phẩm có nguy cơ không được công nhận tại địa phương mới. Hiệp hội kiến nghị các giấy tờ được cấp hợp pháp trước đây cần tiếp tục được kế thừa giá trị pháp lý để tránh gián đoạn hoạt động sản xuất kinh doanh.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, TS Nguyễn Xuân Dương, đại diện Hội Chăn nuôi Việt Nam, ủng hộ chủ trương phân cấp nhưng cho rằng không nên chuyển những khó khăn từ Trung ương xuống địa phương. Ông đề xuất bãi bỏ quy định đăng ký kiểm dịch trước, chỉ thực hiện kiểm dịch tại cửa khẩu; đồng thời xem xét loại bỏ các chứng chỉ hành nghề không cần thiết đối với bác sĩ thú y hoặc kỹ sư chăn nuôi đã được đào tạo chuyên môn.

Theo TS Nguyễn Xuân Dương, cơ quan quản lý cần tập trung kiểm soát các yếu tố rủi ro liên quan đến an toàn thực phẩm, môi trường và dịch bệnh thay vì can thiệp quá sâu vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Một nhóm vấn đề khác được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là thủ tục môi trường. Bà Lê Thị Hồng Nhi, Phó Tổng Giám đốc Truyền thông, Đối ngoại và Phát triển bền vững của Unilever Việt Nam, đại diện cho các doanh nghiệp thành viên EuroCham, cho rằng quy trình cấp giấy phép môi trường hiện nay vẫn kéo dài và còn sự giao thoa giữa báo cáo đánh giá tác động môi trường với giấy phép môi trường.
Theo EuroCham, những thủ tục chồng chéo này làm tăng khối lượng hồ sơ, phát sinh thêm chi phí tuân thủ và ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ triển khai các dự án đầu tư, đặc biệt là các dự án công nghệ cao và đầu tư xanh.
Liên quan đến cơ chế trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR), cộng đồng doanh nghiệp châu Âu bày tỏ sự ủng hộ đối với mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn nhưng kiến nghị cần có lộ trình phù hợp để tránh phát sinh chi phí đột ngột hoặc tạo thêm gánh nặng hành chính.
Ở lĩnh vực nuôi biển công nghiệp, bà Nguyễn Thị Hồng Nhung, Phó Tổng thư ký Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam cho rằng những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay nằm ở quy hoạch không gian biển, thủ tục giao khu vực biển, thiếu tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia và cơ chế bảo hiểm cho hoạt động nuôi biển. Hiệp hội kiến nghị sớm hoàn thiện thể chế, đơn giản hóa thủ tục và ban hành hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật để tạo điều kiện thu hút đầu tư vào lĩnh vực có nhiều tiềm năng tăng trưởng này.
Yêu cầu cải cách hiện nay không còn dừng lại ở việc cắt giảm số lượng thủ tục hành chính mà đang chuyển sang nâng cao chất lượng thể chế và hiệu quả thực thi. Khi gần 9.000 ngày giải quyết thủ tục được cắt giảm, hơn 5.300 tỷ đồng chi phí tuân thủ được tiết kiệm và hàng trăm thủ tục được đơn giản hóa, doanh nghiệp đã có thêm dư địa để đầu tư và mở rộng sản xuất.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số của ngành nông nghiệp trong những năm tới, quá trình cải cách cần tiếp tục đi sâu vào những vấn đề cốt lõi mà doanh nghiệp đang phản ánh, từ tính thống nhất của hệ thống pháp luật, chất lượng thực thi ở địa phương đến việc chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, từ quản lý bằng thủ tục sang quản lý dựa trên tiêu chuẩn kỹ thuật và mức độ rủi ro. Đây sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng môi trường đầu tư minh bạch, ổn định và tạo động lực phát triển bền vững cho cộng đồng doanh nghiệp.