hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD vào năm 2027 không chỉ đòi hỏi duy trì tốc độ tăng trưởng thương mại mà còn yêu cầu những thay đổi căn bản trong phương thức phát triển.
Khi các thị trường ngày càng siết chặt tiêu chuẩn về chất lượng, truy xuất nguồn gốc và phát thải, dư địa tăng trưởng của ngành sẽ phụ thuộc vào khả năng nâng cao giá trị gia tăng, hoàn thiện chuỗi cung ứng và xây dựng nền nông nghiệp theo hướng bền vững.
Nông, lâm, thủy sản tiếp tục là một trong những khu vực tạo thặng dư thương mại lớn của nền kinh tế. Sau khi đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 70 tỷ USD trong năm 2025 với mức xuất siêu khoảng 20 tỷ USD, ngành đang hướng tới mục tiêu đạt 100 tỷ USD vào năm 2027. Đây là mục tiêu thể hiện kỳ vọng lớn nhưng cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi mô hình tăng trưởng trong bối cảnh môi trường thương mại toàn cầu đang có nhiều biến động.

Sáu tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt khoảng 35,88 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Một số nhóm hàng tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực như sản phẩm chăn nuôi, rau quả và thủy sản. Trong khi đó, nhập khẩu đạt 26,68 tỷ USD, tăng 11,7%, phản ánh nhu cầu nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất và chế biến vẫn ở mức cao. Châu Á và châu Mỹ tiếp tục là hai khu vực cung ứng lớn nhất cho thị trường Việt Nam.
Dù duy trì đà tăng trưởng, triển vọng xuất khẩu đang chịu tác động từ nhiều yếu tố bất định. Những thay đổi trong chính sách thương mại quốc tế, chi phí logistics, biến động tỷ giá cùng các tiêu chuẩn ngày càng khắt khe về môi trường và truy xuất nguồn gốc khiến dư địa tăng trưởng không còn dễ dàng như trước.
Ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), cho rằng ngành vẫn còn những "điểm nghẽn" về chất lượng sản phẩm cũng như công tác kiểm dịch, kiểm nghiệm. Đây là những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng mở rộng thị trường và nâng cao giá trị xuất khẩu.
Cùng quan điểm đó, ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính), nhận định tốc độ tăng trưởng xuất khẩu trong thời gian tới có thể chịu ảnh hưởng bởi sự suy giảm của kinh tế toàn cầu, xu hướng bảo hộ thương mại, biến động tỷ giá, chi phí logistics và việc các thị trường ngày càng siết chặt yêu cầu về truy xuất nguồn gốc cũng như tiêu chuẩn phát thải. Theo tính toán của ông, nếu năm 2026 xuất khẩu đạt khoảng 75 tỷ USD thì để cán mốc 100 tỷ USD vào năm 2027, tốc độ tăng trưởng sẽ phải vượt 15% - mức tăng không dễ đạt được trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt.
Trong bối cảnh các lợi thế truyền thống về sản lượng không còn đủ tạo khác biệt, nhiều chuyên gia cho rằng trọng tâm phát triển cần chuyển sang nâng cao giá trị gia tăng và xây dựng chuỗi giá trị bền vững.
Ông Âu Anh Tuấn cho biết: "Tuy nhiên, với sự chỉ đạo quyết liệt của Chính phủ, ngay từ đầu năm 2026, nhiều giải pháp đã được triển khai như cắt giảm thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh chuyển đổi số. Những giải pháp này sẽ hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu nói chung, cũng như xuất khẩu nông, lâm, thủy sản nói riêng."
Ông cũng bày tỏ kỳ vọng: "Với sự cải cách quyết liệt và thay đổi phương thức thực hiện, tôi hy vọng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản năm 2027 có thể tiệm cận mục tiêu 100 tỷ USD. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu này cần nỗ lực từ cả Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp."

Ở góc độ phát triển dài hạn, TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, cho rằng điểm mấu chốt nằm ở việc chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang phát triển kinh tế nông nghiệp. Theo ông, nhiều mặt hàng của Việt Nam đang giữ vị trí cao về sản lượng nhưng giá trị gia tăng còn thấp. Vì vậy, thay vì chỉ xuất khẩu sản phẩm, ngành cần hướng tới bán chất lượng, thương hiệu, sự tin cậy và câu chuyện của sản phẩm.
Quan điểm này cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện toàn bộ chuỗi giá trị, từ sản xuất, chế biến, kiểm dịch, kiểm nghiệm đến truy xuất nguồn gốc. Khi các mắt xích được kết nối đồng bộ, năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam sẽ được nâng lên, đồng thời đáp ứng tốt hơn những yêu cầu ngày càng cao từ thị trường quốc tế.
Theo ông Tô Nguyễn Thành, việc ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số trong toàn bộ chuỗi sản xuất sẽ là giải pháp quan trọng để nâng cao khả năng quản lý, minh bạch thông tin và gia tăng sức cạnh tranh cho nông sản Việt Nam.
Song song với các giải pháp về thương mại và chuỗi cung ứng, việc xây dựng nền tảng sản xuất an toàn cũng được xem là điều kiện tiên quyết để mở rộng thị trường xuất khẩu. Chương trình phối hợp giai đoạn 2026-2030 giữa Chính phủ, Hội Nông dân Việt Nam và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam hướng tới mục tiêu tất cả các hộ sản xuất có hội viên tham gia đều cam kết tuân thủ các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm, đồng thời nhân rộng các mô hình nông nghiệp xanh, hữu cơ và chuyển đổi số. Đây không chỉ là giải pháp đáp ứng yêu cầu của thị trường mà còn tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của ngành trong dài hạn.
Mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD vì vậy không chỉ phụ thuộc vào tăng sản lượng hay mở thêm thị trường mới. Trong bối cảnh các rào cản kỹ thuật ngày càng khắt khe, lợi thế cạnh tranh sẽ được quyết định bởi khả năng tạo dựng giá trị gia tăng, bảo đảm chất lượng, minh bạch chuỗi cung ứng và đáp ứng các tiêu chuẩn phát triển bền vững. Khi quá trình chuyển đổi này được triển khai đồng bộ với sự tham gia của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người sản xuất, ngành nông, lâm, thủy sản sẽ có thêm nền tảng để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng trong những năm tới.