hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Nam Định được coi là "cái nôi" ra đời của món phở bò. Khi các nhà máy dệt may mọc lên, cũng là lúc các gánh phở bắt đầu xuất hiện. Từ mảnh đất Thành Nam, những gánh phở đã len lỏi trong từng con phố, ngóc ngách của nhiều địa phương trên cả nước.
Lưu trữ giá trị truyền thống ẩm thực
Văn hóa ẩm thực Nam Định được ghi nhận có nhiều món ngon, đặc sắc. Và nói đến phở Việt không thể không nhắc đến phở Nam Định, nơi được coi là quê hương của phở. Tinh hoa ẩm thực phở Nam Định không chỉ thể hiện ở nguyên liệu, thực phẩm, phương thức làm ra sợi phở đặc trưng mà còn là tổng thể quá trình gồm nhiều công đoạn chế biến để hoàn thiện tạo ra món phở ngon miệng, ngon cả mắt, đảm bảo chất lượng dinh dưỡng, hương vị và hình thức bắt mắt, hấp dẫn người thưởng thức. Theo khảo sát của UBND tỉnh Nam Định, có khoảng 500 cửa hàng phở trên địa bàn nhưng có gần 1.500 hộ đến các thành phố lớn khác để mở cửa hàng phở.
Bí quyết làm nên món phở Nam Định là kinh nghiệm lâu năm, qua nhiều thế hệ đúc kết thành công thức riêng của các nghệ nhân, đầu bếp trong ngành ẩm thực phở tại một số địa phương trong tỉnh; trong đó nổi tiếng là các làng Vân Cù, Giao Cù, xã Đồng Sơn (Nam Trực) - nơi có những bậc cao niên làm phở, nấu phở với 3-4 thế hệ nối nghề.
Nằm cách trung tâm thành phố Nam Định chừng hơn 10km về phía Nam, xã Đồng Sơn xưa là vùng quê thuần nông. Theo người làm phở nơi đây kể thì từ cuối thế kỷ XIX, theo chân những người làng làm công nhân trên nhà máy Dệt, các gánh phở cũng lên Thành Nam phục vụ nhu cầu ăn đêm của người phố.
Làng Giao Cù và làng Vân Cù được biết đến là những làng phở cổ tuổi nghề cả trăm năm với nhiều gia đình, dòng họ có 4-5 đời gắn bó với nghề phở, đưa món phở đi khắp nơi trong và ngoài nước. Họ Cồ là dòng họ nổi tiếng với nghề truyền thống làm bánh phở và “độc quyền” món phở bò mang hương vị đặc trưng.
Theo các bậc cao niên tại địa phương, xưa kia làng Giao Cù và làng Vân Cù có nhiều người đi làm thợ cho các tiệm Cao Lâu của người Hoa Kiều ở Hải Phòng, Hà Nội, Nam Định; nhiều người sau đó đã tách ra mở tiệm phở riêng. Cụ Cồ Hữu Vàng là người tiên phong đưa phở gánh ra Hà Nội vào những năm 1930-1931.
Cụ Phan Đăng Chiêm là người từng bán phở gánh ở phố Hàng Trống từ năm 1942, sau đó quay về Nam Định rồi lại lên Hà Nội mở hiệu phở ở phố Lãn Ông từ năm 1953. Sau này, gia đình cụ mở thêm nhiều tiệm phở và 2 lò làm bánh phở ở Hà Nội. Sau cụ Chiêm, các cụ: Cồ Văn Chiêu, Cồ Việt Hùng, Cồ Văn Đát, Cồ Khắc Đoàn, Vũ Văn Điệu, Cồ Cử, Cồ Nghiên, Cồ Điệp, Cồ Phùng… đã duy trì, truyền dạy con cháu phát triển nghề phở gia truyền Nam Định tại Hà Nội.
Những năm 1950-1960, những gánh phở rong có mặt tại khắp các phố, phường Nam Định, Hà Nội và dần trở thành món ăn thịnh hành được nhiều người yêu thích. Theo thời gian, những gánh phở xưa không còn nữa. Phở bò Nam Định xuất hiện từ những quán ăn vỉa hè bình dân đến những nhà hàng, khách sạn sang trọng. Trải qua hơn 100 năm, hương vị đặc biệt của phở bò Nam Định vẫn được người dân quê hương gìn giữ cho đến tận ngày nay.
Tinh hoa lưu truyền cho hậu thế
Tinh hoa nghề phở truyền thống ở Đồng Sơn được thể hiện qua nhiều công đoạn. Gạo để làm bánh phở được chọn từ vụ mùa, vụ chiêm trước, để cho hết nhựa, đem nghiền bằng cối đá. Bánh phở được tráng mỏng trên nồi nước quạt than củi cho chín nục. Thịt bò được chọn chế biến được lấy từ những con bò trưởng thành, nặng chừng 3-4 tạ/con. Mỗi con xả được khoảng 2,5 tạ thịt, xương hầm lấy nước.
Món phở bò Nam Định hấp dẫn thực khách bởi bánh phở sợi nhỏ, mỏng mà dai, mềm, không nát. Thịt bò được thái mỏng, dùng sống dao dần, đập dập, (có người sau đó còn dùng lưỡi miết nhẹ, nhanh cho thịt lại quyện vào nhau) rồi trần tái qua nước dùng cho vào bát phở. Thịt ăn mềm, ngọt, giữ được độ tươi ngon và chất dinh dưỡng của thịt.
Đối với phở công đoạn pha chế nước dùng là quan trọng nhất. Nước dùng được ninh kỹ từ xương ống bò hầm cùng một số gia vị: thảo quả, gừng, hoa hồi, đinh hương, hạt ngò gai (mùi tàu), thanh quế, hành khô, tôm nõn, sá sùng… tạo nên hương vị có chút béo, thơm ngậy, ngọt đậm đà. Tỷ lệ các loại gia vị lại là bí quyết của từng nhà tự tích lũy tạo nên hương vị riêng. Phở bò Nam Định ăn kèm với quẩy giòn tan (khác với phở Hà Nội ăn cùng quẩy mềm) cho thêm một chút dấm hoặc chanh, hành hoa, rau thơm, ớt tươi thái lát mỏng.
Phở bò Nam Định khiến du khách “dễ nghiện” bởi một số gia đình đã chế biến, gia giảm hương liệu tạo thành công thức, bí quyết gia truyền. So với phở bò cổ truyền, ngày nay thực đơn phở bò Nam Định đa dạng với các món: tái chín, tái lăn, áp chảo, nạm, gầu, phở xào, sốt vang…
Ở xã Đồng Sơn, ngoài họ Cồ chiếm số đông thì còn nhiều họ khác cũng làm bánh phở như: họ Vũ, họ Phan, họ Đoàn, họ Nguyễn… Tất cả cùng làm nên thương hiệu phở bò Nam Định truyền thống. Trải qua các thế hệ, nhiều cụ nổi tiếng về nghề nấu ăn như: gia đình cụ Vũ Văn Dinh nấu ăn trong các Đại sứ quán của Việt Nam ở các nước Pháp, Lào, Liên Xô cũ; cụ Vũ Văn Đức phục vụ ở Bộ Ngoại giao; cụ Đỗ Văn Dương mở tiệm phở sau ga Hàng Cỏ, Hà Nội; cụ Vũ Văn Lâu, Vũ Tặng, Vũ Văn Mai, Vũ Văn Cung mở quán phở ở Hải Phòng; cụ Vũ Chuẩn, Vũ Tỳ mở quán phở ở Lào Cai…
Riêng nghề làm bánh phở, hiện nay, ở làng Vân Cù chỉ còn 2 gia đình gồm các anh: Cồ Như Tạc, Cồ Như Bin. Xã Đồng Sơn được coi là “thuỷ tổ” của nghề phở Nam Định. Mặc dù ngày nay, con cháu dòng họ Cồ ở lại quê hương làm bánh phở, bán phở không nhiều nhưng người họ Cồ không bao giờ sợ nghề thất truyền. Thương hiệu phở bò Nam Định không chỉ có mặt ở khắp các tỉnh, thành phố từ Bắc vào Nam mà còn ra cả biển đảo Trường Sa và có mặt ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Dệt giá trị để vươn xa
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch vừa có Quyết định số 2326 về việc công bố danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Phở Nam Định và phở Hà Nội chính thức có tên trong danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, loại hình tri thức dân gian. Tuy nhiên, để di sản văn hóa phi vật thể quốc gia không chỉ là cái mác, cần những chiến lược quảng bá bài bản để phát huy, lan tỏa giá trị của “sứ giả” ẩm thực Việt.
Phở là món ăn không thể thiếu trong mục tiêu đưa Việt Nam trở thành bếp ăn của thế giới. Từ lâu, ngành du lịch xác định ẩm thực là thế mạnh nổi trội, coi du lịch ẩm thực là sản phẩm đặc trưng, gắn với yếu tố văn hóa địa phương, vùng miền.
Còn nhớ hồi tháng 3/2024, tại Festival Phở 2024, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Văn hóa ẩm thực Việt Nam Lã Quốc Khánh nhìn nhận, bạn bè quốc tế ấn tượng với phở Việt Nam. Nhật có mỳ ramen rất ngon nhưng họ nói phở Việt Nam có vị rất khó quên. Hiếm có món ăn nào được yêu thích một cách rộng rãi như phở.
Các nhà nghiên cứu văn hóa ẩm thực cho rằng, việc công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia phở Nam Định và phở Hà Nội là tín hiệu vui, tạo thêm sức hút cho món ăn nổi tiếng bậc nhất Việt Nam. Để phát huy tốt nhất các giá trị di sản văn hóa phi vật thể góp phần xây dựng du lịch văn hóa, các chuyên gia đề xuất xây dựng đề án bảo tồn, phát huy một cách kỹ càng, tránh “đồng phục hóa” các di sản. Qua đó, góp phần tạo nên sự đa dạng bản sắc văn hóa của từng vùng miền.
Sự kiện phở Hà Nội, Nam Định được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia góp thêm cơ hội dùng ẩm thực để quảng bá du lịch. Ẩm thực luôn là thế mạnh của rất nhiều nước, không riêng Việt Nam. Ẩm thực gắn liền với văn hóa của một quốc gia. Khách du lịch sẵn sàng chi 25-30% ngân sách của một chuyến đi cho ẩm thực. Ở Việt Nam, địa phương nào tận dụng được tinh hoa ẩm thực và biến đó thành sản phẩm du lịch, địa phương đó sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn.
Vai trò của những nghệ nhân cũng rất quan trọng. Được biết, Hiệp hội Văn hóa Ẩm thực Nam Định cho biết, đơn vị này xây dựng đề án hỗ trợ các nghệ nhân, gia đình và đơn vị sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, đúng tiêu chuẩn phở Việt nói chung, phở Nam Định nói riêng. Tiêu chuẩn được cụ thể hóa từ khâu chọn gạo làm phở, lựa thịt bò, các loại rau, gia vị, quy trình nấu nước,…
Chuyên gia đánh giá tiềm năng, lợi thế về ẩm thực nói chung và thương hiệu phở Việt nói riêng rất lớn, song cần chiến lược thúc đẩy thành sản phẩm du lịch chất lượng. Điều này đòi hỏi các đơn vị lữ hành nghiên cứu để hiểu sâu, hiểu rõ về sản phẩm bản địa. Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia không chỉ là cái mác, đó là cơ sở để tiếp tục phát huy, lan tỏa giá trị của những “sứ giả” ẩm thực Việt.
Năm 2021, cùng với bún đũa, phở bò Nam Định được Hội kỷ lục gia Việt Nam đưa vào danh sách Top 100 món ăn đặc sản Việt Nam. Nghệ nhân ẩm thực Việt Nam Lê Thị Thiết, Chủ tịch Hiệp hội Văn hóa ẩm thực Nam Định là người tâm huyết, có nhiều đóng góp trong việc giới thiệu, quảng bá đặc sản ẩm thực của quê hương. Từ năm 2019 đến nay, bà Thiết liên tục tham gia sự kiện “Ngày của Phở 12-12” do Báo Tuổi trẻ phối hợp với Bộ Ngoại giao, Hiệp hội Ẩm thực Việt Nam, các địa phương, nhãn hàng, nhà tài trợ liên quan tổ chức. Bà cũng tham gia các chuyến xuất ngoại quảng bá phở Việt nói chung, phở Nam Định nói riêng ở Pháp, Đức.