hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chuyển đổi phương thức sản xuất, ứng dụng công nghệ cao và tăng cường kiểm soát dịch bệnh đang trở thành định hướng trọng tâm của ngành nuôi tôm Quảng Trị trong bối cảnh thời tiết và môi trường nuôi ngày càng nhiều rủi ro.
Những năm gần đây, nghề nuôi tôm tại Quảng Trị tiếp tục duy trì vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế thủy sản địa phương. Không chỉ mở rộng theo hướng sản xuất hàng hóa, ngành nuôi tôm của tỉnh đang từng bước chuyển sang mô hình ứng dụng công nghệ cao, giảm mật độ nuôi, tăng cường kiểm soát môi trường và hướng đến phát triển bền vững.

Theo Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Quảng Trị, toàn tỉnh hiện có khoảng 2.320 ha nuôi tôm với hai đối tượng chủ lực là tôm thẻ chân trắng và tôm sú, tập trung chủ yếu tại các vùng ven sông và bãi ngang ven biển. Sản lượng nuôi tôm hằng năm đạt khoảng 7.790 tấn, góp phần tạo sinh kế và thu nhập cho nhiều hộ dân tại các địa phương ven biển.
Cùng với sự phát triển về quy mô, việc ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất đang được đẩy mạnh nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và giảm thiểu rủi ro dịch bệnh. Đến nay, toàn tỉnh Quảng Trị đã nhân rộng được 192,7 ha nuôi tôm công nghệ cao với năng suất cao hơn từ 4 – 5 lần so với mức bình quân. Sản lượng tại các mô hình này đạt khoảng 25 – 30 tấn/ha, lợi nhuận ước đạt khoảng 1 tỉ đồng/ha.
Theo đánh giá của Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư Quảng Trị, bên cạnh kết quả đạt được, nghề nuôi tôm nước lợ trên địa bàn vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, đặc biệt là nguy cơ dịch bệnh và diễn biến thời tiết ngày càng bất lợi.
Tại xã Vĩnh Thủy, một trong những vùng nuôi tôm trọng điểm của địa phương, diện tích nuôi năm 2025 được duy trì ổn định hơn 194 ha, sản lượng đạt gần 400 tấn, hoàn thành 100% kế hoạch đề ra. Tuy nhiên, tình trạng dịch bệnh trên tôm nuôi vẫn là vấn đề được địa phương tập trung khắc phục trong vụ nuôi mới.
Theo thông tin từ Phòng Kinh tế xã Vĩnh Thủy, địa phương đang đẩy mạnh tuyên truyền, khuyến khích người dân chuyển dần từ phương thức nuôi truyền thống sang áp dụng các kỹ thuật nuôi tiên tiến theo hướng công nghệ cao. Trong đó, các mô hình nuôi tôm 2 – 3 giai đoạn, ứng dụng công nghệ biofloc, nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP và tăng cường kiểm soát môi trường ao nuôi đang được khuyến khích nhân rộng.
Cùng với đó, ngành chuyên môn yêu cầu người nuôi tuân thủ nghiêm lịch thời vụ, lựa chọn con giống có nguồn gốc rõ ràng, đã qua kiểm dịch và thực hiện mật độ nuôi theo đúng khuyến cáo nhằm hạn chế phát sinh dịch bệnh.
Đối với các vùng nuôi ven sông có địa hình thấp, thường xuyên chịu ảnh hưởng của lũ lụt, địa phương yêu cầu kết thúc vụ nuôi trước ngày 30/9 để giảm thiểu thiệt hại do thiên tai cuối vụ.
Ngoài ra, công tác quản lý môi trường nuôi cũng được siết chặt hơn. Người nuôi được khuyến cáo chủ động áp dụng các biện pháp kỹ thuật để kiểm soát tốt chất lượng nước ao nuôi và nước cấp; nghiêm cấm xả thủy sản chết hoặc nước thải chưa qua xử lý ra môi trường.
Khi phát hiện tôm bị bệnh hoặc chết bất thường, các hộ nuôi phải kịp thời báo cho chính quyền địa phương hoặc cơ quan thú y để phối hợp xử lý, tránh nguy cơ lây lan trên diện rộng.
Đối với vụ nuôi tôm năm 2026, ngành nông nghiệp tỉnh Quảng Trị đã xây dựng khung lịch mùa vụ cụ thể cho từng vùng nuôi nhằm giúp người dân chủ động triển khai sản xuất.

Theo đó, đối với vùng nuôi ven sông, thời gian thả giống tôm thẻ chân trắng chính vụ bắt đầu từ ngày 15/3 đến 30/6/2026. Riêng các vùng nuôi trên cát có hạ tầng bảo đảm có thể triển khai thả giống sớm hơn, từ ngày 15/2/2026.
Trên cơ sở khung lịch này, các địa phương sẽ căn cứ điều kiện thực tế để hướng dẫn người dân triển khai phù hợp, đồng thời chủ động xây dựng kế hoạch phòng chống dịch bệnh và ứng phó thiên tai trong quá trình sản xuất.
Song song với việc kiểm soát môi trường và lịch thời vụ, ngành chuyên môn cũng định hướng phát triển nghề nuôi tôm theo hướng liên kết cộng đồng và đa dạng hóa đối tượng nuôi.
Các hộ nuôi được khuyến khích tham gia mô hình tổ hợp tác, tổ cộng đồng nuôi trồng thủy sản tại các vùng nuôi tập trung nhằm nâng cao ý thức phòng chống dịch bệnh, bảo vệ môi trường và hỗ trợ nhau trong tiêu thụ sản phẩm.
Ngoài việc nhân rộng mô hình nuôi tôm nhiều giai đoạn và nuôi theo tiêu chuẩn VietGAP, ngành thủy sản còn khuyến khích các mô hình nuôi xen ghép như tôm – cua – cá nâu hoặc nuôi cá kình, cá mú trân châu trong ao lót bạt tại những vùng thường xuyên gặp khó khăn hoặc dịch bệnh.
Theo định hướng của ngành chuyên môn, thời gian tới công tác quan trắc môi trường, cảnh báo dịch bệnh và quản lý chất lượng tôm giống sẽ tiếp tục được tăng cường nhằm hạn chế nguồn giống kém chất lượng lưu thông trên thị trường.