Thứ tư, 04/03/2026 16:12 (GMT+7)

Quảng Trị: Mở rộng nguồn vốn cho khu vực nông thôn, miền núi

Ba Lê

Đề án mới của tỉnh Quảng Trị đặt mục tiêu tăng vốn ủy thác địa phương, nâng hiệu quả tín dụng chính sách trong giảm nghèo đa chiều.

Bước vào giai đoạn 2026-2030 với yêu cầu cao hơn về giảm nghèo đa chiều, xây dựng nông thôn mới nâng cao và phát triển kinh tế - xã hội vùng miền núi, tỉnh Quảng Trị đã phê duyệt Đề án đầu tư tín dụng chính sách đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên địa bàn. Đây được xem là quyết sách quan trọng nhằm tăng cường nguồn lực tín dụng ưu đãi, củng cố trụ cột an sinh xã hội và tạo sinh kế bền vững trong giai đoạn phát triển mới.

Đề án mới của tỉnh Quảng Trị đặt mục tiêu tăng vốn ủy thác địa phương, nâng hiệu quả tín dụng chính sách trong giảm nghèo đa chiều. Ảnh minh họa. 

Tăng tỷ trọng vốn địa phương, tạo đòn bẩy thu hút nguồn lực Trung ương

Theo Đề án, bình quân mỗi năm ngân sách địa phương sẽ ủy thác 300 tỷ đồng qua Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Quảng Trị để cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách, bảo đảm tốc độ tăng trưởng nguồn vốn đạt 15-20%/năm. Tổng nhu cầu vốn cho cả giai đoạn 2026-2030 ước khoảng 7.500 tỷ đồng; trong đó nguồn Trung ương dự kiến 5.250 tỷ đồng, ngân sách địa phương ủy thác 2.250 tỷ đồng, chiếm 30% tổng nhu cầu.

Cơ cấu này phù hợp với Chiến lược phát triển Ngân hàng Chính sách xã hội đến năm 2030, đồng thời thể hiện sự chủ động của địa phương trong bố trí nguồn lực đối ứng để thu hút thêm vốn từ Trung ương. Lãnh đạo UBND tỉnh nhấn mạnh, việc tăng nguồn vốn ủy thác không chỉ đáp ứng nhu cầu vay vốn ngày càng lớn mà còn tạo “đòn bẩy” để hoàn thành các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, nhất là ở khu vực nông thôn, miền núi.

Thực tế cho thấy, nguồn vốn ngân sách địa phương ủy thác qua Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã phát huy hiệu quả tích cực, giúp hàng chục nghìn lượt hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo đầu tư chăn nuôi, trồng trọt, phát triển dịch vụ, cải thiện thu nhập và ổn định đời sống. Một trong những mục tiêu nổi bật của Đề án là bảo đảm 100% hộ nghèo, cận nghèo và hộ mới thoát nghèo đủ điều kiện, có nhu cầu vay vốn đều được tiếp cận tín dụng ưu đãi, thể hiện cam kết “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Giai đoạn 2025-2030, Quảng Trị đặt mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân từ 1-1,5%/năm. Tín dụng chính sách được xác định là giải pháp then chốt, gắn với đào tạo nghề, chuyển giao kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm, tạo nền tảng giảm nghèo đa chiều và bền vững.

Hoàn thiện cơ chế, nâng chất lượng tín dụng chính sách

Theo định hướng mới, nguồn vốn ưu tiên cho vay hỗ trợ tạo việc làm, duy trì và mở rộng việc làm; hỗ trợ người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng; tham gia đào tạo, đào tạo lại, nâng cao tay nghề và chuyển đổi nghề nghiệp. Việc gắn tín dụng với đào tạo nghề được kỳ vọng tạo hiệu ứng kép: vừa nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vừa bảo đảm việc làm ổn định, lâu dài cho người dân.

Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Trị cho biết sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với chính quyền cơ sở và các tổ chức hội, đoàn thể nhận ủy thác để rà soát nhu cầu vay vốn, bảo đảm giải ngân đúng đối tượng, đúng mục đích, đồng thời nâng cao chất lượng tín dụng. Mục tiêu đặt ra là tăng trưởng dư nợ đi đôi với kiểm soát chặt chẽ nợ quá hạn, bảo đảm đồng vốn chính sách phát huy hiệu quả bền vững.

Tính đến cuối năm 2025, tổng nguồn vốn do Chi nhánh Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh Quảng Trị quản lý đạt 12.010 tỷ đồng, tăng 5.508 tỷ đồng so với cuối năm 2020, tương ứng mức tăng 84,7%; tốc độ tăng trưởng bình quân hằng năm đạt 13,2%. Trong đó, nguồn vốn Trung ương đạt 11.423 tỷ đồng, chiếm 95,2%; nguồn vốn nhận ủy thác tại địa phương đạt 577 tỷ đồng, chiếm 4,8%.

Giai đoạn 2021–2025, chi nhánh triển khai 24 chương trình tín dụng ưu đãi, với doanh số cho vay đạt 16.186 tỷ đồng, doanh số thu nợ 10.669 tỷ đồng. Đến cuối năm 2025, tổng dư nợ đạt 12.010 tỷ đồng với hơn 217.000 khách hàng còn dư nợ, cơ bản đáp ứng nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách trên địa bàn.

Tuy nhiên, tỷ trọng vốn ngân sách địa phương ủy thác mới đạt khoảng 5% tổng nguồn vốn, thấp hơn mức bình quân gần 10% của cả nước và còn cách xa mục tiêu 15% theo Chiến lược phát triển đến năm 2030. Trong khi đó, nhu cầu vay vốn cho tạo việc làm, nhà ở xã hội, nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn tiếp tục tăng; mô hình chính quyền địa phương hai cấp cũng đặt ra yêu cầu mới về cơ chế phối hợp trong triển khai tín dụng chính sách.

Trong bối cảnh đó, việc ban hành Đề án giai đoạn 2026–2030 được đánh giá có ý nghĩa quan trọng, không chỉ tăng nguồn vốn ủy thác mà còn hoàn thiện cơ chế quản lý, mở rộng đối tượng thụ hưởng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. Tăng nguồn lực qua Ngân hàng Chính sách xã hội không đơn thuần là quyết định về ngân sách, mà là đầu tư cho sinh kế, việc làm và chất lượng cuộc sống của người dân.

Việt Nam – ADB thúc đẩy gói vốn 2,4 tỷ USD cho giai đoạn hợp tác mới

Việt Nam – ADB thúc đẩy gói vốn 2,4 tỷ USD cho giai đoạn hợp tác mới

Chiều 2/3/2026, Bộ Tài chính Việt Nam và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) thống nhất tiếp tục củng cố quan hệ hợp tác chiến lược, hướng tới mở rộng nguồn lực tài chính, hỗ trợ cải cách kinh tế và phục vụ các mục tiêu phát triển trong giai đoạn tiếp theo.
Ngân hàng nắn dòng vốn về khu vực sản xuất

Ngân hàng nắn dòng vốn về khu vực sản xuất

Ngân hàng đang bước vào chu kỳ điều hành mới với mục tiêu là đưa dòng vốn chảy đúng hướng vào các lĩnh vực tạo ra giá trị thực cho nền kinh tế.
Khơi thông dòng vốn dài hạn cho doanh nghiệp

Khơi thông dòng vốn dài hạn cho doanh nghiệp

Nhu cầu vốn cho doanh nghiệp rất lớn, trở thành yêu cầu cấp bách trong giai đoạn phát triển mới với mục tiêu tăng trưởng hai con số .
Giao dịch ngân hàng sôi động sau Tết

Giao dịch ngân hàng sôi động sau Tết

Ngày làm việc đầu năm Bính Ngọ 2026, các ngân hàng tại Thanh Hóa đồng loạt mở cửa giao dịch, triển khai nhiều chương trình ưu đãi, quyết tâm tăng trưởng tín dụng.
Số hóa ngành ngân hàng với pháp lý đồng bộ và tin cậy

Số hóa ngành ngân hàng với pháp lý đồng bộ và tin cậy

Ngành ngân hàng đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi sâu rộng, nơi công nghệ chỉ có thể bứt phá khi được vận hành trong một hành lang pháp lý đồng bộ và tin cậy.