hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Nghị quyết số 57-NQ/TW không chỉ mở ra cơ hội mà còn là trách nhiệm đổi mới để các nhà khoa học phát huy năng lực nghiên cứu và đóng góp hiệu quả hơn cho ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Ngày 10/5, tại Bắc Ninh, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chủ trì tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cùng các văn bản liên quan như Nghị quyết số 193/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ.
Tại Hội nghị, Bộ trưởng Đỗ Đức Duy nhấn mạnh, chuyển đổi số hiện nay không còn là xu hướng mà đã trở thành yêu cầu tất yếu. Trong bối cảnh ngành đang đối mặt với nhiều thách thức như biến đổi khí hậu gay gắt, tài nguyên suy giảm và áp lực tăng trưởng xanh, các mô hình sản xuất truyền thống không còn phù hợp. Do đó, để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm và bảo vệ môi trường sống, toàn ngành cần đổi mới tư duy và lấy khoa học công nghệ, chuyển đổi số làm nền tảng phát triển.
Bộ trưởng cho rằng, dù thời gian qua ngành Nông nghiệp và Môi trường đã đạt một số kết quả tích cực như triển khai nông nghiệp công nghệ cao, ứng dụng cảm biến trong giám sát môi trường, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai và khí tượng, nhưng để đạt được “đột phá phát triển” như yêu cầu của Nghị quyết, vẫn còn rất nhiều việc phải làm.
Tư lệnh ngành Nông nghiệp và Môi trường đề xuất 5 nhóm giải pháp then chốt: hoàn thiện thể chế để tháo gỡ các rào cản, cải cách tổ chức nghiên cứu theo hướng tinh gọn và tự chủ, thay đổi cách thức đặt hàng nhiệm vụ khoa học công nghệ gắn với thực tiễn sản xuất, phát triển nguồn nhân lực có chuyên môn sâu và đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện.
Hội nghị diễn ra theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, quy tụ khoảng 500 đại biểu đến từ các Bộ, ngành Trung ương, cơ quan Quốc hội, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, doanh nghiệp, hợp tác xã và các tổ chức quốc tế, như: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Trung tâm Nghiên cứu Nông nghiệp Quốc tế Australia (ACIAR), Viện Nghiên cứu Lúa Quốc tế (IRRI), Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA), Viện Nghiên cứu Chính sách Lương thực Quốc tế (IFPRI), Viện Nghiên cứu Chăn nuôi Quốc tế (ILRI)…
Bộ đã ban hành kế hoạch triển khai cụ thể tại Quyết định số 503/QĐ-BNNMT, xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm. Bộ trưởng kêu gọi sự đồng hành, phối hợp của các địa phương, doanh nghiệp, viện trường, hiệp hội và tổ chức quốc tế để tạo bước chuyển thực chất, bền vững cho ngành nông nghiệp và môi trường.
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy và tăng cường quyết tâm chính trị trong toàn ngành. Mục tiêu đặt ra là tối thiểu 25% lãnh đạo các đơn vị có trình độ chuyên môn, kinh nghiệm về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế, coi thể chế là lợi thế cạnh tranh. Bộ sẽ rà soát, sửa đổi 17 luật chuyên ngành; điều chỉnh quy trình nội bộ trên hệ thống điện tử nhằm thay thế giấy tờ truyền thống trong giải quyết thủ tục hành chính.
Thứ ba, tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng số. Trong đó, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo vào quản lý, sản xuất nông nghiệp; xây dựng hệ thống dữ liệu tài nguyên, môi trường, đất đai; số hóa hồ sơ hành chính và cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia.
Thứ tư, phát triển và trọng dụng nhân lực chất lượng cao. Bộ sẽ thu hút và giữ chân các nhà khoa học, chuyên gia có khả năng tổ chức, điều hành các nhiệm vụ quốc gia; đồng thời đổi mới phương thức thực hiện nhiệm vụ KHCN theo cơ chế đặt hàng, gắn với đào tạo nhân lực trong các lĩnh vực then chốt.
Thứ năm, đẩy mạnh chuyển đổi số trong toàn ngành. Tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến toàn trình, cấp phép tự động, cá nhân hóa dịch vụ số; phấn đấu đến năm 2030, trên 90% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được xử lý trực tuyến, thông suốt, hiệu quả. Cùng với đó, phát triển các ứng dụng AI để phân tích, cảnh báo thiên tai, dịch bệnh, ứng phó biến đổi khí hậu.
Thứ sáu, thúc đẩy hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong doanh nghiệp. Bộ sẽ đề xuất chính sách ưu đãi, khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, đầu tư cho công nghệ, nâng cao hiệu quả quản trị. Đồng thời thúc đẩy chuyển giao tri thức và đào tạo nhân lực thông qua doanh nghiệp FDI.
Thứ bảy, tăng cường hợp tác quốc tế. Chủ động tham gia xây dựng khung quản trị khoa học công nghệ trong các cơ chế đa phương; hình thành mạng lưới chuyên gia để thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong quản lý tài nguyên và phát triển bền vững.
Với 7 nhóm nhiệm vụ rõ ràng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đặt mục tiêu tạo đột phá thực chất trong toàn ngành, hình thành nền tảng vững chắc để thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đồng bộ, hiệu quả trong giai đoạn tới.
Nhấn mạnh tầm quan trọng của KH&CN, TS. Phan Xuân Dũng, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, khẳng định Nghị quyết 57 phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu, đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (KHCN, ĐMST, CĐS) vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước.
Theo TS. Phan Xuân Dũng, không có tổ chức hay quốc gia nào đạt được vị thế bền vững nếu không sở hữu nền KHCN hiện đại. Nghị quyết 57 thể hiện tầm nhìn đột phá khi xác định đây là cuộc cách mạng, trong đó nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, còn nhà khoa học là lực lượng chủ lực. Đặc biệt, việc từ bỏ tư duy “không quản được thì cấm” sẽ mở đường cho nhiều mô hình đổi mới hiệu quả. Mục tiêu lọt vào top 50 quốc gia có năng lực cạnh tranh KHCN hàng đầu là hoàn toàn khả thi nếu tận dụng tốt các cơ hội hiện có.
TS. Phan Xuân Dũng cũng nhấn mạnh vai trò nền tảng của ngành nông nghiệp và môi trường. Từ một quốc gia thiếu ăn, Việt Nam đã vươn lên top 15 nước xuất khẩu nông sản lớn nhất thế giới, góp phần đảm bảo an ninh lương thực toàn cầu. Mặc dù tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm, ngành này vẫn giữ vai trò trụ đỡ an sinh xã hội, cung cấp việc làm và ổn định đời sống cho hàng triệu người dân.
Trong lĩnh vực môi trường, Việt Nam kiên định với quan điểm không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế, chuyển hướng sang kinh tế tuần hoàn, coi chất thải là tài nguyên - những định hướng sẽ được thúc đẩy mạnh mẽ hơn nếu thực thi tốt Nghị quyết 57.
Về phía Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, với 3,7 triệu hội viên, trong đó có hơn 2,2 triệu trí thức và 574 tổ chức KHCN trên cả nước, TS. Phan Xuân Dũng cho biết tổ chức đã xây dựng được phong trào nghiên cứu sâu rộng, thu hút đông đảo lực lượng trong các lĩnh vực then chốt như nông nghiệp và môi trường. Đáng chú ý, ngày càng nhiều doanh nhân kiêm nhà khoa học đã góp phần tạo dựng thương hiệu doanh nghiệp song hành với phát triển quốc gia. Bên cạnh nguồn vốn Nhà nước, Liên hiệp còn huy động được nguồn lực xã hội hóa lớn gấp hàng chục lần.
TS Dũng kiến nghị các Bộ, ngành tăng cường đặt hàng nghiên cứu, sử dụng hiệu quả kết quả khoa học, đặc biệt trong các lĩnh vực phát sinh từ thực tiễn như xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường. Cùng với đó, cần đẩy mạnh truyền thông phổ biến tri thức đến người dân ở vùng sâu, vùng xa, và tôn vinh đội ngũ trí thức để tạo thêm động lực phát triển trong kỷ nguyên mới.
Cùng nhấn mạnh vai trò của KH&CN, TS. Nguyễn Phú Tiến, Phó Cục trưởng, Cục Chuyển đổi số Quốc gia, Bộ KHCN khẳng định: Nghị quyết 57 xác lập 5 quan điểm nền tảng, trong đó đột phá về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được coi là động lực chính để thúc đẩy lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật mà còn là một yêu cầu chính trị - xã hội, đòi hỏi sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và sự tham gia đồng bộ của cả hệ thống chính trị.
Ngay sau khi Nghị quyết 57 được ban hành, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 03 (tháng 1/2024) và Nghị quyết 71 (tháng 4/2024) để cụ thể hóa các nhiệm vụ, thể hiện tinh thần hành động khẩn trương. Nghị quyết 71 xác định 7 nhóm nhiệm vụ trọng tâm, trong đó nhấn mạnh việc thay đổi tư duy lãnh đạo, nâng cao nhận thức xã hội và phát triển hạ tầng khoa học công nghệ.
Không có đột phá nào xảy ra nếu thiếu con người. Trong chuỗi giải pháp, yếu tố nhân lực - đặc biệt là nhân tài – được nhấn mạnh như trụ cột phát triển. Theo tinh thần các nghị quyết, thể chế, hạ tầng, dữ liệu và công nghệ là bốn trụ chính, nhưng tất cả đều phải xoay quanh con người. “Người đứng đầu phải vào cuộc, trực tiếp chỉ đạo, sử dụng thành thạo công nghệ và chịu trách nhiệm”, ông Tiến phát biểu khẳng định rõ quan điểm về vai trò lãnh đạo và năng lực sử dụng công nghệ trong bộ máy công.
Bộ Khoa học và Công nghệ đang xây dựng văn bản quy định trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác chuyển đổi số – một bước đi được kỳ vọng sẽ làm rõ vai trò, khuyến khích năng lực và tinh thần đổi mới trong hệ thống công quyền.
Bên cạnh đó, phong trào học tập trên nền tảng số, các chương trình phổ cập kiến thức về công nghệ số cho cán bộ công chức, doanh nghiệp và người dân được triển khai đồng bộ, thu hút hàng chục triệu lượt tiếp cận. Hạ tầng số và trí tuệ nhân tạo không thể phát triển nếu thiếu nền tảng tri thức rộng khắp và khả năng hấp thụ công nghệ của toàn xã hội.
Đáng chú ý, các chính sách đột phá về tài chính, thể chế cũng đang được xây dựng nhằm tháo gỡ rào cản pháp lý, thử nghiệm công nghệ mới, miễn trừ trách nhiệm khi mô hình đổi mới không thành công, và quan trọng nhất: tạo không gian sáng tạo an toàn và khuyến khích mạo hiểm cho doanh nghiệp và nhân tài.
Hành trình chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số và xây dựng quốc gia đổi mới sáng tạo không thể chỉ dừng ở kế hoạch hay khẩu hiệu. Đó là chặng đường của sự dấn thân, của đổi mới tư duy, hành động quyết liệt và đặc biệt là trọng dụng người tài như một chiến lược sống còn.
Ở góc độ địa phương, Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh Vương Quốc Tuấn nhấn mạnh, đây là cơ hội quý giá để Bắc Ninh và ngành Nông nghiệp và Môi trường Bắc Ninh được tiếp cận những tâm huyết chuyên sâu từ các nhà khoa học, chuyên gia và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn từ các địa phương, doanh nghiệp, viện trường nhằm cụ thể hóa các Nghị quyết thành các chương trình, đề án, mô hình triển khai hiệu quả tại địa phương.
Theo ông Vương Quốc Tuấn, trong bối cảnh ngành nông nghiệp đứng trước yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ nhằm đáp ứng các xu thế mới của phát triển bền vững, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế, việc phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số không còn là sự lựa chọn, mà là yêu cầu bắt buộc, là động lực then chốt để nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng năng suất lao động, bảo vệ tài nguyên, môi trường và chất lượng sống của người dân.
Thực hiện Nghị quyết 57, Nghị quyết 193, Nghị quyết 71, tỉnh Bắc Ninh tập trung vào chuyển đổi mô hình từ sản xuất truyền thống sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp thông minh, hướng tới nền nông nghiệp bền vững và thân thiện với môi trường. Tỉnh đang hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tiếp cận các công nghệ mới như: cảm biến giám sát độ ẩm, hệ thống tưới tự động, ứng dụng AI trong phân tích sâu bệnh, sử dụng dữ liệu vệ tinh và bản đồ số để dự báo sản lượng cây trồng, cũng như truy xuất nguồn gốc sản phẩm qua mã QR.
Bắc Ninh khuyến khích các mô hình hợp tác công - tư trong nghiên cứu và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật, nhất là trong lai tạo giống cây trồng, vật nuôi có năng suất và chất lượng cao, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng của tỉnh.
Về lĩnh vực môi trường, Bắc Ninh đang xây dựng nền tảng dữ liệu số tổng hợp về môi trường và đất đai, phục vụ công tác quy hoạch, kiểm soát ô nhiễm, và quản lý biến đổi khí hậu trên địa bàn. Tất cả các cơ quan quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường đang từng bước chuyển đổi từ mô hình quản lý truyền thống sang quản lý số hóa, minh bạch, công khai và phục vụ người dân, doanh nghiệp tốt hơn. Bắc Ninh cũng là địa phương đi đầu hoàn thành xử lý ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại các làng nghề truyền thống và các khu vực trên địa bàn tỉnh.
Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh cam kết, địa phương sẽ tạo điều kiện thuận lợi nhất để các sáng kiến, kết quả nghiên cứu, giải pháp đột phá về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được đưa vào ứng dụng thực tiễn, góp phần nâng cao năng lực nội sinh, sức cạnh tranh, đưa nông nghiệp Bắc Ninh phát triển hiện đại, bền vững và thân thiện với môi trường.
Chương trình hội nghị bao gồm 2 phần chính. Phiên toàn thể vào buổi sáng và các phiên chuyên đề buổi chiều. Tại phiên toàn thể, đại biểu sẽ được nghe trình bày về thực trạng và giải pháp phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; định hướng của Quốc hội và Chính phủ đối với lĩnh vực này; cùng các tham luận từ doanh nghiệp, địa phương và đơn vị ngành dọc.
Phiên chuyên đề buổi chiều chia thành 4 nhóm trọng tâm: (1) Trồng trọt - Bảo vệ thực vật - Lâm nghiệp; (2) Chăn nuôi - Thú y - Thủy sản; (3) Môi trường - Tài nguyên nước; (4) Thủy lợi - Phòng, chống thiên tai - Biến đổi khí hậu. Tại đây, các đại biểu sẽ thảo luận về các định hướng nghiên cứu, cơ chế chính sách, ứng dụng công nghệ tiên tiến, thúc đẩy thương mại hóa sản phẩm khoa học phục vụ phát triển ngành.
Song song với nội dung nghị sự, khu trưng bày thành tựu khoa học công nghệ tiêu biểu trong nông nghiệp và môi trường cũng sẽ được mở cửa phục vụ đại biểu và khách tham quan, qua đó tăng cường kết nối, lan tỏa tri thức, thúc đẩy hợp tác giữa các bên. Ngoài ra, sự kiện còn là dịp để ký kết các thỏa thuận hợp tác chiến lược nhằm triển khai hiệu quả Nghị quyết số 57-NQ/TW trên toàn ngành.