hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giúp doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận, hấp thụ, làm chủ và ứng dụng vào sản xuất cũng như quản trị.
Sự phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới đặt ra bài toán cấp thiết về việc tìm kiếm dư địa tăng trưởng bền vững. Dư địa này không còn dựa nhiều vào việc gia tăng vốn hay lao động giá rẻ, mà phải xuất phát từ năng lực làm chủ công nghệ, cải tiến phương thức quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và sử dụng tối ưu mọi nguồn lực.

Tinh thần Nghị quyết 57-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu biến khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thành động lực phát triển trực tiếp. Điều quan trọng cốt lõi là phải định hình được một cơ chế minh bạch, hiệu quả để tri thức cùng các nguồn lực hỗ trợ có thể đi thẳng vào dòng chảy vận hành của doanh nghiệp, giúp nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh quốc gia.
Đánh giá về bức tranh tổng thể, GS.TS Vũ Minh Khương - Trường Chính sách công Lý Quang Diệu (Đại học Quốc gia Singapore) cho biết, hiện có 7 xu thế lớn đang định hình lại chính sách khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong kỷ nguyên mới.
Trước hết, trí tuệ nhân tạo (AI) đang chuyển mình trở thành hạ tầng năng suất mới của toàn nền kinh tế. Song song đó, mô hình quản lý cũng có sự chuyển dịch căn bản từ hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) truyền thống sang phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo toàn diện. Thay vì dừng lại ở việc xây dựng năng lực đổi mới sáng tạo thuần túy, trọng tâm hiện nay hướng đến việc cung cấp giải pháp thực tế để vượt qua các thách thức phát triển.
Đáng chú ý, bộ ba công nghệ AI, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh đã trở thành tâm điểm của mọi hoạt động đổi mới. Mối liên kết trong nền kinh tế cũng có sự mở rộng khi chuyển từ mô hình 3 nhà truyền thống gồm Nhà nước, Viện nghiên cứu/trường đại học và Doanh nghiệp sang xây dựng hệ sinh thái mở.
Về phía quản lý nhà nước, Chính phủ đang chuyển dần vai trò từ đơn vị cấp ngân sách nghiên cứu và quản lý dự án sang nhà kiến tạo nền tảng cho đổi mới sáng tạo. Tất cả những yếu tố này thúc đẩy sự dịch chuyển từ đổi mới cục bộ sang lan tỏa khoa học công nghệ, nhằm nâng cao năng suất của toàn bộ nền kinh tế.
Theo dữ liệu từ Ngân hàng Thế giới, tốc độ tăng trưởng năng suất bình quân của Việt Nam giai đoạn 2010 - 2022 chỉ đạt mức 0,9%, dù tổng đầu tư trên GDP duy trì ở mức cao là 32%. Nếu muốn hiện thực hóa mục tiêu trở thành nước có thu nhập cao vào năm 2030, Việt Nam buộc phải duy trì tốc độ tăng năng suất hằng năm cao hơn rất nhiều so với mốc 2%.

Thực tế hiện nay cho thấy, việc nâng cao năng suất của doanh nghiệp đang gặp không ít trở ngại từ hệ thống chính sách. Bà Võ Thị Lan Phương, Giám đốc điều hành Công ty Vriens & Partners Việt Nam, chỉ ra 6 nhóm chính sách có nguy cơ làm suy giảm năng suất của khu vực tư nhân.
Thứ nhất là các chính sách tạo ra chi phí tuân thủ quá lớn cho đối tượng thực thi. Thứ hai là những quy định làm hạn chế môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Thứ ba là chính sách cản trở và làm chậm nhịp đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, nhóm chính sách làm gia tăng rủi ro pháp lý cho nhà đầu tư cũng tạo ra tâm lý e ngại. Đáng lo ngại hơn là hiện tượng chính sách tạo ra bẫy quy mô, khiến doanh nghiệp không muốn hoặc e ngại mở rộng hoạt động. Cuối cùng, các chính sách bảo hộ không còn phù hợp đang làm giảm động lực cạnh tranh tự nhiên của thị trường.
Những rào cản này buộc doanh nghiệp phải tiêu tốn đáng kể thời gian, chi phí tài chính và nhân lực cho các thủ tục hành chính, làm suy giảm nguồn lực dành cho R&D và mở rộng sản xuất. Trong nhiều trường hợp, doanh nghiệp thậm chí chọn giải pháp giữ doanh thu, quy mô tài sản hoặc lượng lao động dưới một ngưỡng nhất định để tránh các nghĩa vụ pháp lý phức tạp.
Các cơ quan quản lý cần chuyển sang phương thức quản lý theo rủi ro, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, loại bỏ các quy định trùng lặp và áp dụng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát.
Nhằm đưa khoa học công nghệ trở thành động lực tăng trưởng thực chất, ông Nguyễn Nam Hải, Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, nhấn mạnh 3 vấn đề cốt lõi cần tập trung triển khai.

Một là, mục tiêu cuối cùng của chính sách phải được đo lường bằng kết quả phát triển cụ thể. Hiệu quả không nằm ở số lượng chương trình hay quy mô ngân sách được phân bổ, mà phải thể hiện qua mức tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.
Hai là, doanh nghiệp phải được đặt vào vị trí trung tâm của toàn bộ quá trình thực thi. Khoa học công nghệ chỉ tạo ra giá trị khi doanh nghiệp có đủ khả năng tiếp cận, hấp thụ và ứng dụng vào thực tiễn. Chính sách cần tháo gỡ đồng bộ các điểm nghẽn về thể chế, nguồn vốn, nhân lực, dữ liệu và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp với các viện nghiên cứu, trường đại học.
Ba là, cần thiết lập một cơ chế phản hồi chính sách thường xuyên và linh hoạt giữa cơ quan quản lý, các chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp. Các mô hình thành công cần được đánh giá và nhân rộng nhanh chóng, trong khi các quy định bất cập phải được nhận diện để điều chỉnh kịp thời.
Đưa doanh nghiệp vào trung tâm của chính sách khoa học và công nghệ không chỉ là mục tiêu thể chế, mà là lời giải duy nhất để chuyển hóa tri thức thành năng lực sản xuất thực tế. Chỉ khi rào cản pháp lý được tháo gỡ và môi trường đổi mới sáng tạo thực sự thông thoáng, khoa học công nghệ mới trở thành đòn bẩy bứt phá, đưa năng suất và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam vươn tầm trong kỷ nguyên mới.