hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Giảm lãi suất cho vay thực tế, cơ cấu lại thời hạn trả nợ và tháo gỡ chi phí nguyên vật liệu, năng lượng là những giải pháp được đại biểu Quốc hội đề xuất nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, mở rộng sản xuất. Đây cũng là điều kiện để nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố sức chống chịu của nền kinh tế.
Khó khăn về vốn và chi phí đầu vào đang ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, kinh doanh, nhất là tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Sức mua phục hồi chậm, dòng tiền hạn chế và lãi vay cao khiến doanh nghiệp khó mở rộng sản xuất, đầu tư công nghệ.
Tại phiên thảo luận về tình hình kinh tế - xã hội, đại biểu Trịnh Xuân An, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đồng Nai, đề nghị xác định giảm lãi suất cho vay thực tế là trọng tâm điều hành. Đại biểu kiến nghị điều tiết thanh khoản, giảm chi phí vốn và chi phí hoạt động của ngân hàng, đồng thời minh bạch lãi suất ưu đãi và các khoản phí để giảm thực chất chi phí vay cho doanh nghiệp.

Đại biểu cũng đề xuất đổi mới cơ chế bảo lãnh tín dụng, thúc đẩy cho vay theo dòng tiền và đơn hàng trong chuỗi cung ứng. Cách tiếp cận này tạo thêm cơ sở để ngân hàng đánh giá năng lực trả nợ, hỗ trợ doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh và đơn hàng khả thi nhưng hạn chế về tài sản bảo đảm.
Về xử lý khó khăn trong ngắn hạn, đại biểu Nguyễn Cao Sơn, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Phú Thọ, đề nghị Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các ngân hàng thương mại kéo dài, mở rộng cơ chế cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ đến hết năm 2027 đối với doanh nghiệp khó khăn do thị trường, sử dụng vốn đúng mục đích và có phương án phục hồi khả thi.
Đại biểu đồng thời kiến nghị xem xét khoanh nợ đối với trường hợp đủ điều kiện; mở rộng tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, người thuê hoặc mua nhà ở xã hội. Các khoản phí bảo lãnh dự thầu, phí thực hiện hợp đồng, phí trả nợ trước hạn cũng cần được xem xét giảm; việc giải tỏa ký quỹ cần tương ứng với mức giảm nghĩa vụ bảo lãnh.
Việc cơ cấu lại nợ cần gắn với đánh giá tình hình sản xuất, kinh doanh và khả năng phục hồi của doanh nghiệp. Chính sách cần hướng đến những đơn vị sử dụng vốn đúng mục đích, có phương án khả thi và khả năng tạo dòng tiền để tiếp tục hoạt động.
Bên cạnh tín dụng ngân hàng, đại biểu Trịnh Xuân An đề nghị phát triển thị trường vốn và các kênh huy động dài hạn nhằm giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng. Kế hoạch vốn năm 2027 và các năm tiếp theo cần xác định rõ nhu cầu, nguồn huy động, kỳ hạn, đối tượng phân bổ và kết quả đầu ra dự kiến. Đây là cơ sở để doanh nghiệp chủ động xây dựng phương án tài chính, đồng thời nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực cho đầu tư và sản xuất, kinh doanh.
Giá nguyên vật liệu, nhân công và năng lượng đang làm tăng chi phí đầu tư, sản xuất của doanh nghiệp. Trong lĩnh vực xây dựng, nhu cầu vật liệu tăng khi nhiều công trình trọng điểm được triển khai, trong khi thủ tục cấp phép và nâng công suất khai thác các mỏ cát, đá còn vướng mắc. Biến động giá cũng gây áp lực cho nhà thầu, nhất là các đơn vị thực hiện hợp đồng xây lắp đã ký trước đó.

Đại biểu Nguyễn Cao Sơn đề xuất ban hành cơ chế điều chỉnh đơn giá đối với hợp đồng xây lắp đầu tư công ký trước ngày 1/7/2026 nhằm chia sẻ rủi ro giữa ngân sách và nhà thầu. Đại biểu cũng kiến nghị sửa đổi Luật Địa chất và khoáng sản, đưa đất thông thường dùng làm vật liệu san lấp, đắp nền ra khỏi danh mục khoáng sản nhóm 4 để quản lý theo pháp luật về xây dựng; đồng thời xử lý dứt điểm thủ tục cấp phép, thăm dò và nâng công suất các mỏ cát, đá vật liệu thông thường.
Việc tháo gỡ các vướng mắc này sẽ góp phần bảo đảm nguồn cung vật liệu, đẩy nhanh tiến độ thi công và kiểm soát chi phí dự án. Cơ chế điều chỉnh đơn giá cần có tiêu chí cụ thể, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước và nhà thầu, đồng thời kiểm soát tác động đến ngân sách.
Đối với chi phí năng lượng, các đại biểu đề xuất giảm giá điện phục vụ sản xuất; đưa thuế tiêu thụ đặc biệt đối với xăng các loại về 0%; kéo dài thời gian hỗ trợ thuế bảo vệ môi trường và thuế giá trị gia tăng đối với dầu điêzen. Cùng với đó, cần ưu tiên vốn đầu tư đường dây truyền tải, trạm biến áp theo Quy hoạch điện VIII điều chỉnh để đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất.
Giảm chi phí điện và nhiên liệu sẽ giúp doanh nghiệp kiểm soát giá thành, cải thiện sức cạnh tranh. Các chính sách cần được tính toán đồng bộ với yêu cầu bảo đảm an ninh năng lượng, cân đối ngân sách và hiệu quả sử dụng vốn.
Đại biểu Trịnh Xuân An cũng đề nghị đánh giá chất lượng tăng trưởng dựa trên những chỉ tiêu thực chất như thu nhập của người dân, khả năng tích lũy, năng lực tái đầu tư của doanh nghiệp trong nước và mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu. Theo đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số cần gắn với việc làm bền vững, cải thiện thu nhập và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
Đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công là một giải pháp tạo thêm động lực cho tăng trưởng. Nguồn vốn cần được đưa vào các dự án có khả năng triển khai, bảo đảm tiến độ và hiệu quả, qua đó thúc đẩy hoạt động của các ngành xây dựng, vật liệu, vận tải và dịch vụ liên quan.
Các kiến nghị tại nghị trường tập trung vào những yếu tố tác động trực tiếp đến hoạt động doanh nghiệp như: vốn vay, nguyên vật liệu, năng lượng và tiến độ đầu tư công. Việc triển khai đồng bộ các giải pháp này sẽ góp phần giảm chi phí sản xuất, cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.
Đại biểu Trịnh Xuân An lưu ý, giảm lãi suất phải đi đôi với bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, ổn định tỷ giá và kiểm soát lạm phát. Đây là yêu cầu quan trọng để duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng. Mục tiêu tăng trưởng từ 10%/năm trở lên cần được hỗ trợ bằng khả năng huy động vốn hiệu quả, kiểm soát chi phí đầu vào và nâng cao năng lực sản xuất của doanh nghiệp trong nước.