hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong 8 tháng năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 13,9% so với cùng kỳ năm 2025.
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7%; xuất khẩu tăng 22,4%, trong khi nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3%, khiến cán cân thương mại nhập siêu 20,46 tỷ USD.
Đáng chú ý, nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện xuất khẩu khoảng 101 tỷ USD nhưng nhập khẩu tới 161,6 tỷ USD, tương ứng nhập siêu 60,6 tỷ USD. Trong khi đó, nhóm điện thoại và linh kiện xuất khẩu khoảng 45,6 tỷ USD, nhập khẩu 6,86 tỷ USD, tạo mức xuất siêu 38,74 tỷ USD. Những con số này cho thấy quy mô xuất khẩu lớn chưa phản ánh đầy đủ năng lực sản xuất và giá trị gia tăng mà doanh nghiệp Việt Nam đang nắm giữ.
Theo Hiệp hội Doanh nghiệp điện tử Việt Nam (VEIA), ngành điện tử có hơn 80.000 doanh nghiệp, tạo việc làm cho khoảng 1,9 triệu lao động và đóng góp trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Quy mô này đặt ra yêu cầu nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ và tăng khả năng làm chủ công nghệ.
Thông báo số 481/TB-VPCP ngày 14/9/2026 của Văn phòng Chính phủ, ghi nhận kết luận của Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc tại buổi làm việc với VEIA và các doanh nghiệp xuất nhập khẩu lớn ngành điện tử, tập trung vào giảm nhập siêu cục bộ, nâng năng lực tự chủ công nghệ, tăng giá trị nội địa và phát triển hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước.

Hướng xử lý được đặt ra là chuyển hỗ trợ công nghiệp hỗ trợ từ dàn trải sang hỗ trợ theo chuỗi và theo sản phẩm. Bộ Công Thương được giao xây dựng chương trình kết nối nhà cung cấp Việt Nam với các tập đoàn điện tử, bán dẫn trong và ngoài nước, dựa trên từng chuỗi sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu thực tế.
Các doanh nghiệp FDI được yêu cầu chủ động tham gia phát triển hệ sinh thái điện tử tại Việt Nam, mở rộng danh sách nhà cung cấp nội địa, chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình quản lý chất lượng và hỗ trợ đào tạo nhân lực. Đây là cơ sở để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp yêu cầu của các chuỗi cung ứng lớn.
Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp trong nước phải nâng năng lực công nghệ và quản trị. Định hướng là chuyển dần từ các công đoạn có giá trị gia tăng thấp sang thiết kế vi mạch, đóng gói - kiểm thử, sản xuất linh kiện và vật liệu điện tử, AI, máy chủ và thiết bị trung tâm dữ liệu. Muốn thực hiện được bước chuyển này, doanh nghiệp phải tăng đầu tư cho R&D, tự động hóa, chuyển đổi số và nhân lực chất lượng cao.
Đến năm 2030, ngành bán dẫn đặt mục tiêu có ít nhất 100 doanh nghiệp thiết kế chip, 1 nhà máy chế tạo chip quy mô nhỏ và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử; doanh thu công nghiệp bán dẫn trên 25 tỷ USD/năm, tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam từ 10-15%. Công nghiệp điện tử hướng tới doanh thu trên 225 tỷ USD/năm, tỷ lệ giá trị gia tăng tại Việt Nam từ 10-15%. Nguồn nhân lực bán dẫn đạt trên 50.000 kỹ sư, cử nhân.
Giai đoạn 2030-2040, các mục tiêu được nâng lên ít nhất 200 doanh nghiệp thiết kế chip, 2 nhà máy chế tạo chip, 15 nhà máy đóng gói, kiểm thử; doanh thu công nghiệp bán dẫn trên 50 tỷ USD/năm và công nghiệp điện tử trên 485 tỷ USD/năm. Tỷ lệ giá trị gia tăng của hai ngành tại Việt Nam được đặt trong khoảng 15-20%, với trên 100.000 kỹ sư, cử nhân bán dẫn.
Đến giai đoạn 2040-2050, mục tiêu là ít nhất 300 doanh nghiệp thiết kế chip, 3 nhà máy chế tạo chip, 20 nhà máy đóng gói, kiểm thử; doanh thu công nghiệp bán dẫn trên 100 tỷ USD/năm và công nghiệp điện tử trên 1.045 tỷ USD/năm. Tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước được nâng lên 20-25%.
Vốn, thuế và R&D được xác định là các công cụ hỗ trợ quá trình nâng cấp ngành. Ngân hàng Nhà nước được giao nghiên cứu chính sách tín dụng phù hợp cho doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ điện tử, doanh nghiệp đổi mới công nghệ, tự động hóa và chuyển đổi số, trong đó tạo điều kiện cho DNNVV tiếp cận vốn.
Bộ Tài chính được giao rà soát chính sách ưu đãi thuế đối với linh kiện, máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất điện tử, bán dẫn. Định hướng là khuyến khích sản xuất trong nước đối với những sản phẩm đã có khả năng sản xuất, đồng thời tạo thuận lợi cho nhập khẩu những đầu vào mà nguồn cung trong nước chưa đáp ứng được. Việc rà soát, đề xuất chính sách được đặt thời hạn hoàn thành trong tháng 10/2026.
Bộ Khoa học và Công nghệ được giao ưu tiên hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, làm chủ công nghệ lõi như thiết kế vi mạch, vật liệu bán dẫn, đóng gói - kiểm thử; xây dựng cơ chế ưu đãi R&D, hỗ trợ đăng ký sáng chế và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Với quy mô xuất khẩu lớn nhưng nhập khẩu đầu vào cao, yêu cầu cấp thiết đối với doanh nghiệp là nâng tỷ lệ giá trị tạo ra trong nước. Doanh nghiệp không thể chỉ dựa vào lắp ráp hoặc gia công, mà phải đầu tư vào công nghệ, quản trị, R&D, tự động hóa và nhân lực để tiến lên những khâu có giá trị cao hơn.
Muốn trở thành nhà cung cấp của các tập đoàn FDI, doanh nghiệp nội địa phải đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình quản lý chất lượng, yêu cầu kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và hồ sơ kỹ thuật. Các yêu cầu này phải được đưa vào hệ thống quản trị ngay từ khâu sản xuất.

Với doanh nghiệp có quy mô nhập siêu lớn, hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, máy móc phải gắn với sản xuất và xuất khẩu, bảo đảm tạo ra năng lực sản xuất và giá trị gia tăng tại Việt Nam. Doanh nghiệp cần làm rõ cơ cấu, mục đích nhập khẩu và chủ động phát triển nhà cung cấp trong nước.
Đây là lý do chương trình kết nối nhà cung cấp được thiết kế theo từng chuỗi sản phẩm. Bộ Công Thương phối hợp với các bộ, ngành, địa phương và hiệp hội để xác định những linh kiện, vật liệu có nhu cầu lớn và khả năng nội địa hóa; VCCI và VEIA làm đầu mối kết nối cung - cầu; doanh nghiệp FDI chia sẻ tiêu chuẩn và hỗ trợ đào tạo; doanh nghiệp trong nước xây dựng kế hoạch phát triển nhà cung cấp nội địa.
Tuân thủ xuất xứ và pháp luật thương mại cũng là yêu cầu bắt buộc. Doanh nghiệp phải kiểm soát nguồn gốc hàng hóa, thủ tục hải quan và không để xảy ra chuyển tải bất hợp pháp hoặc lợi dụng xuất xứ Việt Nam để né tránh các biện pháp phòng vệ thương mại.
Bộ Công Thương tăng cường hướng dẫn về quy tắc xuất xứ, phòng vệ thương mại và đa dạng hóa thị trường; Bộ Tài chính đẩy mạnh kết nối dữ liệu xuất nhập khẩu để phân tích, cảnh báo sớm rủi ro, đồng thời tăng kiểm tra, giám sát trị giá hải quan.
Nguồn nhân lực phải được chuẩn bị song song với công nghệ. Mục tiêu trên 50.000 kỹ sư, cử nhân bán dẫn đến năm 2030 cho thấy nhân lực là một cấu phần trực tiếp của chiến lược phát triển. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Nội vụ được giao đẩy mạnh đào tạo nhân lực vi mạch, bán dẫn, tự động hóa và thúc đẩy liên kết giữa Nhà trường - Viện nghiên cứu - Doanh nghiệp. Ngành đã có hơn 80.000 doanh nghiệp, khoảng 1,9 triệu lao động và đóng góp trên 30% tổng kim ngạch xuất khẩu, nhưng riêng nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện vẫn nhập siêu 60,6 tỷ USD.
Phát triển nhà cung cấp nội địa, làm chủ công nghệ, đầu tư R&D, nâng chuẩn quản trị và đào tạo nhân lực phải trở thành những mắt xích của cùng một quá trình. Khi doanh nghiệp Việt Nam tiến được vào các công đoạn có giá trị cao hơn, tăng trưởng xuất khẩu mới gắn chặt hơn với năng lực sản xuất trong nước và mục tiêu giảm phụ thuộc vào đầu vào nhập khẩu.