hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trước sức ép thiếu hụt vật liệu và biến động giá, Thanh Hóa đang triển khai Nghị quyết 66.4 như một giải pháp trọng tâm nhằm ổn định thị trường và bảo đảm tiến độ hạ tầng.
Trong bối cảnh hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm và chương trình đầu tư công bước vào giai đoạn tăng tốc, tình trạng khan hiếm vật liệu xây dựng, đặc biệt là đất san lấp và cát, đang trở thành một trong những “nút thắt” lớn nhất đối với tiến độ thi công và giải ngân vốn. Biến động giá cả cùng các vướng mắc về thủ tục cấp phép, khoanh định mỏ, công suất khai thác đã làm gia tăng chi phí, kéo dài thời gian chuẩn bị nguồn vật liệu, tác động trực tiếp đến hiệu quả đầu tư.

Trước yêu cầu cấp bách đó, Nghị quyết số 66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ được xem là “chìa khóa” tháo gỡ khó khăn trong quá trình thực thi Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, đồng thời tạo hành lang pháp lý linh hoạt hơn cho thị trường vật liệu xây dựng. Trên cơ sở này, Thanh Hóa đã sớm ban hành kế hoạch triển khai đồng bộ, tập trung vào các giải pháp rút ngắn thủ tục cấp phép, đưa các khu vực mỏ đủ điều kiện vào diện không đấu giá quyền khai thác, cũng như xem xét nâng công suất tại những mỏ đang hoạt động.
Theo báo cáo của Sở Nông nghiệp và Môi trường, đối với nhóm mỏ đất làm vật liệu san lấp, UBND tỉnh đã phê duyệt 10 khu vực mỏ áp dụng cơ chế không đấu giá quyền khai thác khoáng sản để phục vụ trực tiếp các công trình đầu tư công theo Nghị quyết 66.4. Đây là bước đi quan trọng, tạo cơ sở pháp lý để các chủ đầu tư tiếp cận nhanh nguồn vật liệu, giảm thời gian chờ đợi và chi phí trung gian.
Thực tế triển khai cho thấy, một mỏ đất tại xã Yên Thọ đã được cấp phép cho Tổng Công ty Xây dựng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Thanh Hóa - công ty cổ phần và đưa vào khai thác. Hai mỏ khác tại xã Trường Lâm và xã Các Sơn đang hoàn tất hồ sơ, dự kiến được cấp phép trong tháng 1/2026. Song song với đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường tiếp tục rà soát các khu vực mỏ đủ điều kiện, trình UBND tỉnh bổ sung vào danh mục áp dụng cơ chế đặc thù không đấu giá.

Ở hướng tăng nguồn cung ngắn hạn, việc nâng công suất khai thác tại các mỏ hiện hữu cũng được xem xét thận trọng. Cụ thể, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã đề xuất Chủ tịch UBND tỉnh chấp thuận nâng công suất từ 136.000 m³ lên 450.000 m³ đối với mỏ đất san lấp tại xã Tượng Lĩnh theo đề nghị của Công ty TNHH Đầu tư phát triển xây dựng Lâm Minh. Việc điều chỉnh công suất được đặt trong khung kiểm soát chặt chẽ về bảo vệ môi trường, an ninh trật tự, an toàn giao thông và trách nhiệm duy tu hạ tầng vận chuyển, nhằm bảo đảm vừa đáp ứng nhu cầu vật liệu, vừa hạn chế tác động tiêu cực đến đời sống dân cư.
Đối với cát xây dựng, loại vật liệu có tính nhạy cảm cao về môi trường và xã hội, tỉnh đang triển khai đồng thời nhiều bước kiểm soát. Sau khi rà soát các điều kiện theo quy định, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã trình UBND tỉnh phê duyệt 2 mỏ cát lòng sông tại xã Hoằng Giang và xã Thiệu Quang theo đề nghị của Công ty CP Vĩnh An vào danh mục không đấu giá quyền khai thác theo Nghị quyết 66.4. Bên cạnh đó, UBND tỉnh cũng đã hoàn thiện hồ sơ, gửi Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xin ý kiến đối với khu vực mỏ cát tại xã Biện Thượng theo Khoản 3, Điều 30 Luật Di sản văn hóa năm 2024, làm cơ sở xem xét đưa vào diện áp dụng cơ chế đặc thù.
Không chỉ tập trung cho đầu tư công, Thanh Hóa còn mở rộng phạm vi áp dụng Nghị quyết 66.4 cho các dự án đầu tư trực tiếp. Cuối năm 2025, UBND tỉnh đã ban hành hai quyết định phê duyệt danh mục 55 dự án vốn ngoài ngân sách được hưởng cơ chế đặc thù. Trên cơ sở đó, Sở Nông nghiệp và Môi trường đã hướng dẫn các nhà đầu tư khảo sát, đề xuất mỏ phục vụ dự án; đến nay đã có 14 chủ đầu tư với 16 đề xuất mỏ được kiểm tra thực địa và đang hoàn tất các bước thẩm định.
Những động thái này diễn ra trong bối cảnh quy mô đầu tư tiếp tục gia tăng mạnh. Năm 2025, tổng kế hoạch vốn đầu tư công của tỉnh đạt gần 24.749 tỷ đồng, giải ngân đến hết năm đạt hơn 17.842 tỷ đồng, tương đương 72,1% kế hoạch. Bước sang đầu năm 2026, các chủ đầu tư và nhà thầu đang chạy đua thi công để “về đích” giải ngân, kéo theo nhu cầu vật liệu xây dựng tăng cao. Cùng với đó, hàng trăm dự án đầu tư trực tiếp, trong đó có những dự án quy mô lớn như Khu công nghiệp WHA Smart Technology 1 - Thanh Hóa, đang đồng loạt triển khai, khiến áp lực về nguồn cung vật liệu ngày càng rõ nét.
Nghị quyết 66.4 đã tạo ra “đường băng chính sách” quan trọng, song để cơ chế này phát huy hiệu quả lâu dài, yêu cầu đặt ra là chuyển từ tư duy xử lý tình huống sang xây dựng một hệ sinh thái thị trường vật liệu xây dựng vận hành ổn định, minh bạch và bền vững.
Theo Sở Công Thương, năm 2026 nhu cầu vật liệu san lấp phục vụ phát triển hạ tầng các cụm công nghiệp dự báo tiếp tục tăng mạnh. Chủ động trước áp lực đó, sở đã rà soát và đề xuất 24 cụm công nghiệp được áp dụng cơ chế đặc thù theo Nghị quyết 66.4. Với các dự án đã được phê duyệt, cơ quan chuyên môn yêu cầu chủ đầu tư, nhà thầu khẩn trương khảo sát, lựa chọn các khu vực có nguồn vật liệu đáp ứng yêu cầu kỹ thuật, đồng thời đánh giá toàn diện các tiêu chí về khoảng cách vận chuyển, hạ tầng giao thông, phương án giải phóng mặt bằng, cũng như bảo đảm không xâm phạm các khu vực cấm, khu vực liên quan đến quốc phòng - an ninh và di sản văn hóa. Đây là cơ sở quan trọng để thẩm định và xem xét cấp phép mỏ theo đúng quy định.
Theo đại diện Sở Công Thương Thanh Hoá, giải pháp trọng tâm là phân loại nhu cầu để có cách tiếp cận phù hợp. Với các dự án có khối lượng san lấp không lớn, ưu tiên khai thác từ các mỏ đang còn trữ lượng, kết hợp nâng công suất theo Nghị quyết 66.4. Đối với các dự án quy mô lớn, yêu cầu chủ đầu tư chủ động khảo sát, đề xuất mỏ mới, trên cơ sở đáp ứng đồng thời các tiêu chí về kỹ thuật, môi trường, hạ tầng giao thông và quốc phòng - an ninh.