hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Bộ Công Thương ban hành phương án tạm thời điều phối nguồn vật liệu xây dựng thông thường giữa các địa phương giai đoạn 2026–2030, nhằm bảo đảm nguồn cung đá, cát và đất san lấp cho các dự án quan trọng quốc gia. Phương án xác định cụ thể địa phương cung cấp, địa phương tiếp nhận và nguyên tắc huy động nguồn vật liệu liên tỉnh.
Theo phương án ban hành kèm Quyết định số 2800/QĐ-BCT, Bộ Công Thương phân chia 34 tỉnh, thành phố thành 3 nhóm dựa trên khả năng cân đối nguồn vật liệu xây dựng thông thường.

Nhóm 1 gồm 18 tỉnh, thành phố có khả năng tự bảo đảm nhu cầu và cung cấp vật liệu cho địa phương khác. Nhóm 2 gồm 10 tỉnh, thành phố thiếu một số loại vật liệu nhưng có thể cân đối thông qua nâng công suất, mở rộng hoặc khai thác sâu hơn các mỏ hiện có và cấp mới mỏ. Nhóm 3 gồm 6 địa phương thiếu vật liệu, không thể tự cân đối và cần được hỗ trợ từ nơi khác, gồm Hà Nội, Hưng Yên, Tây Ninh, Cà Mau, Cần Thơ và Ninh Bình.
Phương án tập trung vào hai hành lang cung ứng chính là Đồng bằng sông Cửu Long – Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Hồng. Việc điều phối được thực hiện theo nhu cầu thực tế, ưu tiên các dự án quan trọng quốc gia, tiếp đến là dự án khẩn cấp, công trình phòng chống thiên tai và các công trình khác theo quy định.
Nguồn vật liệu được ưu tiên huy động từ các mỏ khoáng sản nhóm III, IV đã được cấp phép và còn hiệu lực, các dự án thu hồi khoáng sản có quy mô từ 100.000 m³ trở lên và những nguồn hợp pháp khác. Phương án cũng khuyến khích sử dụng đất đá thải mỏ, cát nạo vét lòng sông và cát biển đáp ứng tiêu chuẩn để bổ sung nguồn cung.
Đối với Hà Nội, tổng nhu cầu vật liệu thiếu hụt được xác định gồm 272,25 triệu m³ đá xây dựng, 243,88 triệu m³ đất san lấp và 320,19 triệu m³ cát.
Nguồn đá xây dựng dự kiến được điều phối từ 6 tỉnh, gồm Phú Thọ 100 triệu m³, Ninh Bình 50 triệu m³, Thái Nguyên 50 triệu m³, Thanh Hóa 30 triệu m³, Tuyên Quang 22 triệu m³ và Nghệ An 20,25 triệu m³.
Đối với đất san lấp, phương án xác định nguồn cung từ Phú Thọ 70 triệu m³, Bắc Ninh 60 triệu m³, Ninh Bình 60 triệu m³, Thái Nguyên 34 triệu m³ và Tuyên Quang 20 triệu m³.


Nguồn cát được định hướng sử dụng từ dự án nạo vét lòng dẫn, cải thiện khả năng thoát lũ và bảo đảm giao thông thủy nội địa sông Hồng đoạn qua Hà Nội. Thành phố có trách nhiệm báo cáo tiến độ dự án và nhu cầu cát cấp bách giai đoạn 2026–2027 trước ngày 15/11/2026 để Bộ Công Thương xem xét điều phối bổ sung nếu còn thiếu.
Tại Cà Mau, nhu cầu vật liệu phục vụ 4 dự án trọng điểm quốc gia do Bộ Quốc phòng làm chủ đầu tư gồm 22,1 triệu m³ đá xây dựng và 20,7 triệu m³ cát san lấp.
Nguồn đá dự kiến do TP.HCM cung cấp 10,5 triệu m³, Đồng Nai 10,5 triệu m³ và An Giang 1,1 triệu m³. Đối với cát san lấp, Cần Thơ cung cấp 17,2 triệu m³, Đồng Tháp 2,3 triệu m³ và Vĩnh Long 1,2 triệu m³.
Phương án cũng xác định trách nhiệm cung ứng đối với các địa phương khác. Hưng Yên cần 9,5 triệu m³ đá xây dựng, 20 triệu m³ cát san lấp và 13,3 triệu m³ đất san lấp. Trong đó, Ninh Bình dự kiến cung cấp toàn bộ nhu cầu đá xây dựng; Hưng Yên rà soát, bổ sung quy hoạch để cấp mới mỏ cát tại chỗ, đồng thời phối hợp với Quảng Ninh, Ninh Bình và Tuyên Quang xác định nguồn đất san lấp.
Tây Ninh cần bổ sung 15,6 triệu m³ cát san lấp cho các dự án Vành đai 4 TP.HCM đoạn qua Tây Ninh và tuyến TP.HCM – Trung Lương – Mỹ Thuận. Trước mắt, Vĩnh Long và Đồng Tháp mỗi tỉnh hỗ trợ 2 triệu m³. Tây Ninh tiếp tục rà soát nguồn tại chỗ và báo cáo kết quả trước ngày 30/11/2026.
Để bảo đảm tiến độ cung ứng, phương án yêu cầu các địa phương phối hợp xác định danh mục mỏ, khối lượng khai thác và kế hoạch giao nhận theo từng năm. Các tỉnh, thành phố phải ưu tiên giải quyết hồ sơ cấp mới, gia hạn, nâng công suất và điều chỉnh giấy phép mỏ phục vụ những dự án thuộc diện điều phối theo cơ chế đặc thù.
UBND các địa phương có trách nhiệm rà soát toàn bộ mỏ vật liệu trên địa bàn, xử lý vi phạm và thu hồi giấy phép đối với các mỏ không thực hiện đúng quy định để xem xét cấp cho các dự án quan trọng quốc gia, dự án đầu tư công. Kết quả rà soát phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 30/10/2026.
Phương án đồng thời yêu cầu các địa phương không đặt thêm thủ tục, điều kiện hoặc khoản thu trái quy định, không trì hoãn hay hạn chế việc khai thác, vận chuyển và cung ứng vật liệu sang địa phương khác.

Đối với địa phương tiếp nhận vật liệu, UBND phải phối hợp với chủ đầu tư và địa phương cung cấp để lập danh mục mỏ cụ thể, xác định tiến độ giao nhận từng năm và gửi Bộ Công Thương trước ngày 10/11/2026. Việc tiếp nhận, vận chuyển và sử dụng vật liệu phải bảo đảm đúng công trình, chủng loại, khối lượng, chất lượng và tiến độ.
Các địa phương cung cấp vật liệu có trách nhiệm bảo đảm khối lượng tối thiểu được phân công, giám sát hoạt động khai thác và vận chuyển. Nếu xảy ra sự cố khiến nguồn cung không đáp ứng khối lượng đã xác định, địa phương phải báo cáo bằng văn bản cho Bộ Công Thương trong vòng 5 ngày làm việc kể từ khi xác định nguyên nhân để xem xét điều phối nguồn thay thế.
Về quản lý giá, việc mua bán vật liệu được thực hiện thông qua hợp đồng thương mại. Giá do đơn vị khai thác hoặc thu hồi khoáng sản quyết định, thỏa thuận với bên mua theo quy định. Các đơn vị phải kê khai, niêm yết và công khai giá theo Luật Giá; không được lợi dụng phương án để đầu cơ, găm hàng hoặc tăng giá bất hợp lý.
UBND các tỉnh, thành phố có trách nhiệm tiếp nhận kê khai giá, kiểm tra yếu tố hình thành giá khi xuất hiện biến động bất thường và công bố giá vật liệu định kỳ. Chi phí vật liệu, chi phí vận chuyển trong dự toán công trình phải tuân thủ quy định về quản lý chi phí đầu tư xây dựng.
Bộ Công Thương giao Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam làm đầu mối theo dõi, đôn đốc, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện. Bộ Xây dựng cung cấp thông tin về nhu cầu vật liệu, hướng dẫn xác định chi phí và tiêu chuẩn vật liệu thay thế; Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp xử lý thủ tục đất đai, môi trường, đê điều; Bộ Tài chính hướng dẫn quản lý giá và tham mưu kinh phí phục vụ điều tra khoáng sản.
Các địa phương được yêu cầu xây dựng đề án đánh giá tiềm năng khoáng sản nhóm III, IV trước quý II/2027, chuẩn bị nguồn mỏ cho giai đoạn 2030–2045. Bộ Công Thương sẽ tổng hợp tình hình thực hiện, báo cáo Thủ tướng Chính phủ định kỳ hằng quý và đề xuất điều chỉnh phương án khi cần thiết.