hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Các chuyên gia và nhà quản lý cho rằng, trong bối cảnh sầu riêng đang có lợi thế về diện tích và giá trị xuất khẩu, để phát triển bền vững và ổn định lâu dài cần siết chặt chuẩn mã số vùng trồng, đồng thời tăng cường liên kết xuất khẩu.
Năm 2025, sầu riêng tiếp tục khẳng định vị thế là một trong những ngành hàng trái cây xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, với tổng diện tích trồng trên cả nước vượt 150.000 ha. Trong đó, tỉnh Lâm Đồng dẫn đầu với khoảng 36.000 ha, tỉnh Đắk Lắk hơn 33.000 ha và tỉnh Đồng Tháp trên 25.600 ha. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 3,86 tỷ USD, tăng hơn 20% so với năm 2024 và lần đầu tiên thiết lập kỷ lục mới.
Vùng Tây Nguyên có diện tích sầu riêng lớn nhất với 51.400ha, sản lượng 336.400 tấn, so với cả nước bằng 46,7% diện tích và 39,6% sản lượng.
Đứng thứ hai là vùng Đồng bằng sông Cửu Long có diện tích 33.000ha, sản lượng 372.000 tấn, so với cả nước bằng 29,9% diện tích và 43,8% sản lượng.
Thứ ba là vùng Đông Nam Bộ có diện tích 20.800ha, sản lượng 122.900 tấn, so với cả nước bằng 18,9% diện tích và 14,5% sản lượng.
Thứ 4 là vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có diện tích 5.000ha, sản lượng 17.800 tấn, so với cả nước bằng 4,2 % diện tích và 2,1% sản lượng.
Lý giải cho sự tăng trưởng diện tích sầu riêng chóng mặt này, ông Đỗ Hà Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty cổ phần Intimex Group chia sẻ với bất kỳ loại nông sản nào mang lại lợi nhuận kinh tế cao, nông dân có quyền lựa chọn.
Hiện các loại nông sản như cà phê, tiêu cho lợi nhuận từ 200 triệu đến 300 triệu đồng/ha/năm, cây sầu riêng cho lợi nhuận 2 tỷ đồng/ha/năm.
Tuy nhiên, ngành sầu riêng đang đối mặt nhiều thách thức, nhất là nguy cơ cung vượt cầu, liên kết sản xuất – tiêu thụ còn lỏng lẻo và việc tuân thủ tiêu chuẩn tại một số vùng trồng chưa đồng bộ. Chi phí xuất khẩu gia tăng trong khi hệ thống truy xuất nguồn gốc vẫn thiếu thống nhất, làm gia tăng rủi ro cho doanh nghiệp.

Theo các chuyên gia, để tham gia thị trường xuất khẩu, đặc biệt là Trung Quốc, sầu riêng Việt Nam phải tuân thủ nghiêm các cam kết trong Nghị định thư, bảo đảm an toàn thực phẩm, không nhiễm kim loại nặng cadimi và không tồn dư chất Vàng O bị cấm. Theo đó, việc kiểm soát chất lượng được yêu cầu chặt chẽ từ khâu sản xuất đến sau thu hoạch.
Thực tế cho thấy, không ít vùng trồng và cơ sở đóng gói chưa duy trì đầy đủ các điều kiện bắt buộc, khiến công tác truy xuất nguồn gốc gặp khó khăn, tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến xuất khẩu.
Nhằm tháo gỡ vướng mắc và chuẩn hóa sản xuất, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã tổ chức các hội thảo tập huấn, hướng dẫn sử dụng Hệ thống truy xuất nguồn gốc quả sầu riêng, góp phần siết chặt vùng trồng, chuẩn hóa đóng gói và giữ vững “vé thông hành” cho sầu riêng Việt Nam trên thị trường xuất khẩu.
Theo các chuyên gia, nhà quản lý, việc liên kết xuất khẩu sầu riêng trong thời gian tới cần được các ngành liên quan, các địa phương đẩy mạnh thông qua việc xây dựng các chuỗi liên kết sản xuất - tiêu thụ, tập trung chuẩn hóa mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói để đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là thị trường Trung Quốc.
Riêng tại địa bàn vùng Tây Nguyên, được xem là khu vực có diện tích trồng sầu riêng lớn nhất cả nước, chiếm hơn 46% diện tích và gần 40% sản lượng toàn quốc. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng Tây Nguyên (đặc biệt Đắk Lắk) đạt khoảng 1,1 tỷ USD, xuất sang Trung Quốc, Nhật Bản, Mỹ. Đắk Lắk hiện đã xây dựng được 269 vùng trồng và 16 đơn vị đóng gói sầu riêng đông lạnh được Tổng cục Hải quan Trung Quốc phê duyệt.
Tại Đồng bằng sông Cửu Long hiện có 448 mã số vùng trồng và 46 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng xuất khẩu.
Điều kiện cấp mã số vùng trồng yêu cầu diện tích tối thiểu 10 ha, áp dụng VietGAP hoặc GAP tương đương, quản lý dịch hại tổng hợp, tuân thủ ISPM 6 và duy trì đầy đủ hồ sơ, nhật ký canh tác. Với cơ sở đóng gói, các yêu cầu còn khắt khe hơn về hạ tầng, quy trình, nhân lực và hồ sơ quản lý.
Về mô hình liên kết, cần đẩy mạnh mô hình hợp tác xã (HTX) chủ động liên kết với doanh nghiệp xuất khẩu, tuân thủ các quy định về mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.
Về giải pháp nâng cao giá trị, cần có sự chuẩn hóa xây dựng vùng trồng theo tiêu chuẩn (VietGAP, GlobalGAP), truy xuất nguồn gốc đi đôi với phát triển công nghệ & logistics; đầu tư kho lạnh bảo quản chế biến sâu để gia tăng giá trị, thay vì chỉ xuất thô.
Xây dựng thương hiệu sầu riêng Tây Nguyên (đặc biệt là sầu riêng Đắk Lắk với hương vị đặc trưng). Tập trung vào chuyển đổi số và giám sát chặt chẽ an toàn thực phẩm, mã số vùng trồng đến năm 2030.
Các HTX và doanh nghiệp sầu riêng xuất khẩu vùng Tây Nguyên đang tăng cường ứng dụng công nghệ, chế biến sâu và logistics lạnh nhằm nâng cao giá trị gia tăng. Đặc biệt là việc hoàn thiện thủ tục hải quan, bao gồm hợp đồng, packing list và giấy tờ kiểm dịch để xuất khẩu chính ngạch.