Thứ sáu, 16/10/2026 16:46 (GMT+7)

Vốn xanh thiếu cơ chế dẫn dòng vào dự án

Phúc Minh

Tín dụng xanh đạt 828.000 tỷ đồng nhưng mới chiếm khoảng 4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Với nhu cầu vốn cho thích ứng biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040 lên tới 368 tỷ USD, Việt Nam cần mở rộng kênh huy động vốn, xử lý bất cập về tiêu chuẩn đánh giá và xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro cho các dự án xanh.

Tín dụng ngân hàng chưa đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn

Đến tháng 6/2026, có 82 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ xanh với tổng quy mô khoảng 828.000 tỷ đồng, gấp 4,6 lần năm 2017. Giai đoạn 2017–2025, tín dụng xanh tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm.

Tuy nhiên, tín dụng xanh mới chiếm khoảng 4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong khi đó, nhu cầu vốn đầu tư bổ sung cho thích ứng biến đổi khí hậu và giảm phát thải đến năm 2040 ước tính khoảng 368 tỷ USD, tương đương 6,8% GDP mỗi năm.

Khoảng cách vốn lớn đặt ra yêu cầu mở rộng các kênh tài trợ. Tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng khó đáp ứng toàn bộ nhu cầu của những dự án cần vốn lớn và thời gian hoàn vốn kéo dài 10–25 năm.

Đến nay, trên địa bàn tỉnh Quảng Trị có 21 dự án nhà máy điện gió vận hành thương mại với tổng công suất 994,2MW - Ảnh: VGP/Nhật Anh

Ông Lê Hoài Ân, CFA, Founder IFSS, chuyên gia tư vấn hoạt động ngân hàng, cho rằng giảm lãi suất không giải quyết được bài toán vốn xanh. Lãi suất thấp không thể giúp một dự án thiếu dòng tiền trở thành dự án có khả năng trả nợ, đồng thời không xử lý được sự chênh lệch giữa nguồn vốn huy động ngắn hạn và nhu cầu tài trợ dài hạn.

Điểm nghẽn nằm ở cấu trúc tài chính và chất lượng dự án. Ngân hàng phải cân đối kỳ hạn nguồn vốn, trong khi nhiều dự án xanh cần thời gian thu hồi vốn dài. Doanh nghiệp cũng gặp khó khăn khi chứng minh hiệu quả đầu tư, khả năng trả nợ và kết quả giảm phát thải theo những tiêu chuẩn chưa thống nhất.

Ông Bùi Minh Giáp, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam, đề xuất kết hợp tín dụng ngân hàng với trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn cổ phần, tài chính hỗn hợp và các cơ chế bảo lãnh. Theo ông, ngân hàng cần nâng cao chất lượng thẩm định và chịu trách nhiệm về chất lượng khoản vay.

Thị trường carbon chưa tạo được động lực vốn rõ rệt

Sàn giao dịch carbon trong nước đã khai trương phiên giao dịch đầu tiên ngày 29/6/2026. Việt Nam cũng đã phân bổ hạn ngạch phát thải thí điểm cho 110 cơ sở thuộc ba ngành nhiệt điện, thép và xi măng trong giai đoạn 2025–2026.

Tổng hạn ngạch phát thải được phân bổ khoảng 243,1 triệu tấn CO₂ năm 2025 và 268,4 triệu tấn năm 2026.

Tuy nhiên, việc vận hành sàn giao dịch chưa tự động giúp doanh nghiệp giảm chi phí vốn. Thị trường vẫn thiếu dữ liệu lịch sử giá đủ sâu, khung pháp lý tích hợp và các tổ chức xác minh chuyên biệt đạt chuẩn quốc tế trong nước. Những hạn chế này làm tăng khó khăn trong định giá tín chỉ, đánh giá hiệu quả dự án và xác định giá trị tài chính của kết quả giảm phát thải.

Ông Đặng Tài An Trang, Phó Tổng Giám đốc Sở Giao dịch Chứng khoán Việt Nam, chỉ ra các điểm nghẽn về dữ liệu, pháp lý, năng lực xác minh và quy mô thị trường trái phiếu bền vững. Theo tài liệu hội thảo, dư nợ trái phiếu bền vững GSS+ chỉ tương đương khoảng 0,2% GDP, khoảng 0,9 tỷ USD.

Quy mô này chưa đáp ứng nhu cầu huy động vốn dài hạn cho chuyển đổi xanh. Các quỹ hưu trí tự nguyện và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ cũng chưa phân bổ mạnh nguồn vốn vào trái phiếu doanh nghiệp dài hạn.

Bà Trần Thị Khánh Hiền, Giám đốc Khối Nghiên cứu Công ty Chứng khoán MBS, đề xuất Việt Nam tham khảo kinh nghiệm Singapore trong xây dựng thị trường carbon. Theo bà, cần đồng bộ chính sách định giá, tiêu chuẩn chất lượng tín chỉ và hệ sinh thái tài chính. Tín chỉ carbon phải bảo đảm không tính trùng, có tính bổ sung và được xác minh độc lập.

Việt Nam cũng cần kiểm soát nguy cơ tẩy xanh thông qua các tiêu chí định lượng và cơ chế hậu kiểm. Kết quả giảm phát thải phải được xác minh, còn dòng vốn huy động cần được theo dõi để bảo đảm sử dụng đúng mục đích.

Cần đa dạng hóa nguồn vốn và thống nhất tiêu chuẩn xanh

Việt Nam cần xây dựng cấu trúc tài chính gồm tín dụng ngân hàng, trái phiếu xanh, trái phiếu tài trợ chuyển đổi, vốn chủ sở hữu và các cơ chế bảo lãnh. Mỗi kênh vốn cần đảm nhận phần rủi ro phù hợp với năng lực và thời hạn đầu tư.

Theo đề xuất của ông Lê Hoài Ân, ngân hàng thương mại nên tài trợ những cấu phần dự án có dòng tiền ổn định; thị trường trái phiếu cung cấp vốn dài hạn; quỹ đầu tư và vốn chủ sở hữu tham gia vào giai đoạn đầu có mức độ rủi ro cao hơn; các tổ chức tài chính phát triển hỗ trợ chia sẻ rủi ro.

Cơ chế này giúp giảm áp lực lên ngân hàng và tạo điều kiện huy động vốn cho các dự án có thời gian hoàn vốn dài. Việt Nam cần phát triển trái phiếu xanh và trái phiếu tài trợ chuyển đổi, đồng thời khuyến khích các quỹ hưu trí tự nguyện và doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ đầu tư vào trái phiếu doanh nghiệp bền vững.

Vấn đề tiếp theo là thống nhất bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia. Hiện nay, sự khác biệt trong tiêu chuẩn đánh giá giữa các ngân hàng khiến doanh nghiệp gặp khó khi lập hồ sơ vay vốn.

Ông Nguyễn Hữu Tú, Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Miza, cho rằng dòng vốn xanh bị tắc do sự khác biệt trong tiêu chuẩn đánh giá. Ông đề xuất áp dụng thống nhất bộ tiêu chí phân loại xanh trên toàn hệ thống ngân hàng và công nhận dữ liệu giảm phát thải minh bạch là cơ sở tài chính hợp lệ.

Bộ tiêu chí chung sẽ giúp doanh nghiệp xác định điều kiện tiếp cận vốn và chuẩn hóa hồ sơ. Tuy nhiên, việc đáp ứng tiêu chí xanh cần đi cùng khả năng chứng minh dòng tiền, hiệu quả đầu tư và phương án trả nợ. Một dự án có lợi ích môi trường nhưng thiếu năng lực tài chính vẫn khó thu hút vốn thương mại.

Việt Nam cũng cần phát triển năng lực xác minh, xếp hạng tín nhiệm và thẩm định dự án xanh trong nước để giảm chi phí dịch vụ, nâng cao tính minh bạch và hỗ trợ nhà đầu tư đánh giá rủi ro.

Ông Phạm Văn Hoành, Tổng Biên tập Báo Tài chính – Đầu tư, nhấn mạnh thị trường carbon cần có thanh khoản, dữ liệu, cơ chế xác minh và niềm tin để phát triển bền vững. Doanh nghiệp phải nhìn thấy hiệu quả kinh tế từ giảm phát thải, còn tổ chức tài chính cần xác định được giá trị và mức độ rủi ro của dự án.

Khơi thông vốn xanh vì vậy cần tập trung vào ba nhiệm vụ: đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn, thống nhất tiêu chuẩn đánh giá và nâng cao chất lượng dự án. Khi doanh nghiệp chứng minh được hiệu quả tài chính, kết quả giảm phát thải và khả năng trả nợ, nguồn vốn mới có cơ sở để đi vào các dự án chuyển đổi xanh với chi phí phù hợp.

Khơi thông và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng xanh

Khơi thông và sử dụng hiệu quả vốn tín dụng xanh

Ngành Ngân hàng đóng vai trò là "bà đỡ" tài chính, thông qua các gói tín dụng ưu đãi hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh.
Phân loại dự án đầu tư được cấp tín dụng xanh

Phân loại dự án đầu tư được cấp tín dụng xanh

Bộ Tài nguyên và Môi trường đề xuất 47 loại hình dự án đầu tư ở 7 ngành/lĩnh vực được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh gồm: năng lượng; giao thông vận tải; xây dựng; nông lâm thủy sản; công nghiệp chế biến, chế tạo; dịch vụ môi trường...
10.000 tỷ đồng “tín dụng xanh” phát triển nguồn nước và cải thiện môi trường tại Bình Dương

10.000 tỷ đồng “tín dụng xanh” phát triển nguồn nước và cải thiện môi trường tại Bình Dương

Công ty Nước – Môi trường Bình Dương (BIWASE) và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã ký kết hợp đồng tài trợ vốn dài hạn lên đến hơn 10.000 tỷ đồng nhằm phát triển các dự án trọng điểm về nguồn nước và cải thiện môi trường tại Bình Dương và các khu vực lân cận.
Tín dụng xanh là chìa khóa phát triển bền vững

Tín dụng xanh là chìa khóa phát triển bền vững

Đứng trước những thách thức to lớn từ hậu quả của biến đổi khí hậu, có nhiều giải pháp đã được triển khai để giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, đảm bảo môi sinh - môi trường. Giải pháp về tài chính, trong đó, có chính sách tín dụng xanh, được xem là hiệu quả, từ đó góp phần hướng tới phát triển kinh tế bền vững. 
Nhiều giải pháp khơi thông dòng vốn tín dụng xanh

Nhiều giải pháp khơi thông dòng vốn tín dụng xanh

Mặc dù Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực trong tăng trưởng tín dụng xanh, ngân hàng xanh, tài chính xanh, song diễn biến thực tế cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.