hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Mặc dù Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực trong tăng trưởng tín dụng xanh, ngân hàng xanh, tài chính xanh, song diễn biến thực tế cho thấy vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.
Theo thông tin được đưa ra tại Hội thảo “Dẫn nguồn vốn lớn cho tín dụng xanh” mới đây, trong hành trình hiện thực hóa mục tiêu xanh của Việt Nam không chỉ đòi hỏi việc hoàn thiện cơ chế chính sách, nâng cao nhận thức, xây dựng hệ thống giám sát đủ năng lực thực thi cam kết mà còn cần tới một nguồn lực khổng lồ. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (năm 2022), Việt Nam sẽ cần khoảng 368 tỉ USD đến năm 2040, tương đương 6,8% GDP mỗi năm khi theo đuổi lộ trình phát triển kết hợp khả năng chống chịu và phát thải ròng bằng "0".
Với một quốc gia đang phát triển, đang trong quá trình chuyển đổi, có thu nhập trung bình thấp, việc huy động nguồn lực lớn như vậy là một bài toán không đơn giản. Trong bối cảnh đó, tài chính xanh là một trong những lời giải, và tín dụng xanh là một chìa khóa.
Trong thời gian qua, tín dụng xanh cũng đang cho thấy nhiều tín hiệu tích cực với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2017- 2022 đạt khoảng 23%, cao hơn cả mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên, với tổng số chưa đầy 600 ngàn tỷ đồng tín dụng xanh được các ngân hàng cung cấp đến nay, có thể thấy nguồn vốn xanh đầy tiềm năng này vẫn chưa hoàn toàn được khơi thông.
Chia sể về vấn đề này, bà Phạm Thị Thanh Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước cho biết: “Giai đoạn 2017-2022, dư nợ cấp tín dụng của hệ thống đối với các lĩnh vực xanh có mức tăng trưởng dư nợ bình quân đạt hơn 23%/năm. Đến 30/9/2023, dư nợ cấp tín dụng xanh đạt hơn 564 nghìn tỷ đồng, chiếm tỷ trọng khoảng 4,4% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Trong số 12 lĩnh vực xanh Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn các Tổ chức tín dụng cho vay, dư nợ tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo, năng lượng sạch (chiếm gần 45%) và nông nghiệp xanh (hơn 30%). Các Tổ chức tín dụng đã tăng cường đánh giá rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng với dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt gần hơn 2,67 triệu tỷ đồng, chiếm hơn 21%/tổng dư nợ cho vay của nền kinh tế.”
Do đó, để tín dụng xanh phát triển, theo ông Nguyễn Bá Hùng, Chuyên gia Kinh tế trưởng Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) tại Việt Nam cho rằng, Chính phủ Việt Nam cần có những biện pháp cần thiết nhất và đầu tiên là tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về tài chính xanh phù hợp với thực tiễn Việt Nam và tương thích với thông lệ, chuẩn mực quốc tế để đảm bảo tính thống nhất và minh bạch.
Thứ hai, dựa trên chiến lược phát triển xanh, đi đôi với khuôn khổ pháp lý, cần xác định mục tiêu định lượng cụ thể phù hợp với cam kết quốc tế của Việt Nam, đi đôi với cơ chế khuyến khích rõ ràng để tạo động lực phát triển tài chính xanh. Các nguồn vốn xanh thương mại mới hình thành cơ chế tạo động lực cho kết quả thực hiện các cam kết “xanh”, nên lợi ích tài chính chưa nhiều. Hiện nay, không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước khác, một số ngân hàng và doanh nghiệp sử dụng các dòng tiền xanh với lợi ích mang lại từ marketing hoặc thương hiệu (branding), trong khi lợi ích tài chính còn hạn chế và không nhất thiết phải xuất phát từ sự bắt buộc tuân thủ các quy định pháp luật. Vì vậy cần tạo cơ chế khuyến khích tín dụng xanh, như giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các tổ chức tài chính phát triển tín dụng xanh, hỗ trợ lãi suất cho vay tín dụng xanh...
Thứ ba, các nhà hoạch định chính sách cần tiếp tục các chính sách quản lý tài chính linh hoạt cân bằng nguồn lực trong nước và huy động nguồn lực từ bên ngoài để tạo nguồn tài chính xanh bền vững. Cần chủ động tiếp cận các nguồn vốn quốc tế thông qua hợp tác song phương và các tổ chức tài chính quốc tế để thu hút nguồn vốn ưu đãi và nâng cao năng lực, tích luỹ kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xanh và tài chính xanh, từ đó góp phần phát triển thị trường tài chính xanh trong nước sâu rộng hơn.
Thứ tư, Chính phủ nên đẩy nhanh tiến độ thực hiện xác nhận chứng chỉ carbon, hình thành thì trường carbon trong nước và kết nối với thị trường carbon quốc tế. Đây là kênh tạo nguồn thu bổ sung cho các hoạt động kinh tế xanh, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp chuyển đổi sang hoạt động xanh nhanh hơn và ở quy mô lớn hơn.
Cuối cùng, chính phủ cũng là một thành viên tích cực trên thị trường trái phiếu. Chính phủ có thể có những bước đi tiên phong quan trọng khi phát hành trái phiếu chính phủ xanh, trên cơ sở hệ thống quản lý chi ngân sách cho các hạng mục xanh. Khi đó, thị trường trái phiếu xanh sẽ trở nên sôi động hơn và có thể thu hút nhóm các nhà đầu tư quan tâm đến các sản phẩm tài chính xanh.