hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Theo Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư, Cục Hải quan TP. HCM Lý do Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam (Trung Nam Group) bị cưỡng chế là do công ty này đã nợ thuế quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định. Số tiền bị cưỡng chế hơn 27,5 tỷ đồng.
Ngày 31/1/2024, Chi cục Hải quan quản lý hàng đầu tư, Cục Hải quan TP. HCM đã ban hành quyết định về việc cưỡng chế thi hành quyết định hành chính về quản lý thuế bằng biện pháp dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu của Công ty Cổ phần Đầu tư Xây dựng Trung Nam (Trung Nam Group).
Lý do bị cưỡng chế là do Trung Nam Group đã nợ thuế quá 90 ngày kể từ ngày hết thời hạn nộp theo quy định. Số tiền bị cưỡng chế hơn 27,5 tỷ đồng. Quyết định này có hiệu lực trong thời hạn 1 năm, kể từ ngày 31/1/2024 đến ngày 30/1/2025, quyết định sẽ được chấm dứt hiệu lực kể từ khi tiền thuế nợ được nộp đủ vào ngân sách Nhà nước.
Trung Nam Group được thành lập vào 2004, là một tập đoàn với hệ sinh thái đa ngành nghề gồm 05 lĩnh vực hoạt động như: Năng lượng, Hạ tầng - Xây dựng, Bất động sản, Công nghiệp thông tin điện tử. Tập đoàn này được điều hành bởi Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Tâm Thịnh sinh năm 1973 và Tổng giám đốc kiêm người đại diện theo pháp luật là ông Nguyễn Tâm Tiến sinh năm 1967. Trong thời gian qua, Trung Nam Group đã và đang đẩy mạnh hoạt động đầu tư vào các dự án điện mặt trời, thủy điện và điện gió.
Đến thời điểm hiện tại, Trung Nam Group mới chỉ công bố thông tin tài chính năm 2022. Trong đó, vốn chủ sở hữu của tập đoàn đạt hơn 27.914 tỷ đồng. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu là 2,44 lần, tương ứng 68.110 tỷ đồng. Năm 2022, lợi nhuận sau thuế hợp nhất của Trungnam Group đạt 254 tỷ đồng, giảm 84% so với năm trước đó, tương ứng giảm 1.381 tỷ đồng.
Để tài trợ cho các dự án, Trung Nam Group và các công ty thành viên đã phát hành hàng nghìn tỷ trái phiếu. Thời gian gần đây, Trung Nam Group liên tiếp công bố chậm thanh toán lãi một số trái phiếu. Cụ thể, Trung Nam Group chậm thanh toán tiền lãi 106,9 tỷ đồng trái phiếu TNGCB2124001 và 4,7 tỷ tiền lãi trái phiếu TNGCH2224005. Trái phiếu TNGCB2124001 có tổng giá trị phát hành 2.000 tỷ và trái phiếu TNGCH2224005 có tổng giá trị phát hành 100 tỷ. Hai lô trái phiếu này sẽ đáo hạn trong năm 2024.
Vừa qua Thanh tra Chính phủ đã chỉ ra hàng loạt sai phạm của các công ty thành viên Trung Nam Group trong việc đầu tư các dự án điện, cụ thể:
Dự án thủy điện Đồng Nai 2 tại xã Tân Thượng, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng do Công ty cổ phần Thủy điện Trung Nam (Trungnam Power - Thành viên trực thuộc Trung Nam Group) làm chủ đầu tư với công suất lắp máy là 75 MW, vốn đầu tư là 2500 tỷ đồng. Nhà máy thủy điện Đồng Nai 2 được xây dựng trên sông Đa Dâng, một nhánh của sông Đồng Nai.
Theo kết luận Thanh tra Chính phủ: Ngày 9/5/2014, Công ty mua bán điện và Công ty cổ phần thuỷ điện Trung Nam đã ký kết hợp đồng mua bán điện với giá tạm tính 1.740 đồng/kWh, cao hơn 757 đồng/kWh so với mức giá trần khung giá phát điện năm 2013 áp dụng đối với các nhà máy thuỷ điện (983 đồng/kWh) được quy định tại Quyết định số 8440/QĐ-BCT ngày 15/1/2013 của Bộ Công Thương.
Sau khi Chủ đầu tư phê duyệt quyết toán vốn đầu tư Nhà máy Thuỷ điện Đồng Nai 2, Công ty Mua bán điện và Chủ đầu tư đàm phán lại nhưng giá mua điện vẫn vượt khung quy định là ngoài thẩm quyền phê duyệt hợp đồng của Cục Điều tiết điện lực.
Đồng thời, Trung Nam Group lại được Thanh tra Chính phủ nhắc đến tại phụ lục số 07 đi kèm thông báo kết luận. Theo đó, TTCP đã chỉ ra nhiều sai phạm liên quan đến một số dự án điện mặt trời, điện gió dù chủ đầu tư không đáp ứng điều kiện về tài chính nhưng vẫn được UBND tỉnh Ninh Thuận phê duyệt chủ trương đầu tư. Trong đó, có 2 dự án điện mặt trời của Trung Nam Group.
Cụ thể, tại thông báo kết luận thanh tra đã nêu rõ, UBND tỉnh Ninh Thuận phê duyệt chủ trương đầu tư 2 dự án Nhà máy điện mặt trời Trung Nam Thuận Bắc 204MW và Trung Nam Thuận Nam chưa thực hiện đúng việc thẩm định năng lực tài chính nhà đầu tư dự án chưa đúng quy định tại điểm d khoản 1 Điều 33 Luật Đầu tư 2014; Không đảm bảo năng lực tài chính theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 58 Luật Đất đai 2013, điểm c khoản 1 và điểm a, điểm b khoản 2 Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014.