hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Quốc hội thông qua Nghị quyết thành lập Thành phố Quảng Ninh ngày 24/8/2026 đã mở ra không gian phát triển mới cho địa phương.
Mô hình thành phố trực thuộc Trung ương tạo nền tảng để Quảng Ninh tổ chức lại không gian kinh tế, nâng cao năng lực quản trị và huy động nguồn lực, hướng tới đô thị biển xanh, thông minh, có sức cạnh tranh quốc tế. Cùng với thay đổi thể chế, chuyển dịch mô hình tăng trưởng, đầu tư hạ tầng và phát triển kinh tế số đang mở thêm dư địa cho doanh nghiệp.
Lộ trình hoàn thiện Đề án thành lập Thành phố Quảng Ninh diễn ra trong tháng 8/2026 với nhiều bước quan trọng. Ngày 5/8, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp ban hành báo cáo thẩm tra Đề án. Từ ngày 6 đến 12/8, Quốc hội thảo luận tại tổ và hội trường với 67 lượt ý kiến. Ngày 15/8, Chính phủ hoàn thiện các báo cáo giải trình; ngày 19/8, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành kết luận tán thành nội dung Đề án. Chiều 24/8, Quốc hội thông qua Nghị quyết với 100% đại biểu tán thành.
Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cùng với các đặc khu và định hướng phát triển tích hợp, tạo điều kiện để Quảng Ninh tổ chức lại không gian kinh tế và nâng hiệu quả phân bổ nguồn lực. Khi đô thị, biển, biên giới và các khu vực di sản được kết nối trong một không gian phát triển thống nhất, lợi thế của từng địa bàn có thể được khai thác theo hướng bổ trợ, hình thành thêm dư địa cho logistics, công nghiệp, dịch vụ, du lịch và các ngành kinh tế mới.

Quảng Ninh đặt mục tiêu GRDP tăng bình quân khoảng 12%/năm, GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 20.000 USD; dịch vụ chiếm 40-43% GRDP, công nghiệp - xây dựng chiếm 45-48% và kinh tế số chiếm 30%. Với cơ cấu này, tăng trưởng sẽ phụ thuộc ngày càng nhiều vào năng lực tạo giá trị của doanh nghiệp, từ sản xuất, dịch vụ đến công nghệ, thay vì dựa chủ yếu vào mở rộng quy mô đầu tư.
Yêu cầu về chất lượng tăng trưởng được thể hiện qua mục tiêu năng suất lao động xã hội tăng 12%/năm và đóng góp của TFP trên 55%. Đây là cơ sở để Quảng Ninh chuyển trọng tâm từ gia tăng các yếu tố đầu vào sang nâng hiệu quả sử dụng vốn, lao động và tài nguyên, đồng thời thúc đẩy công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Đối với doanh nghiệp, sự thay đổi này tạo ra dư địa thị trường mới nhưng cũng nâng chuẩn cạnh tranh. Cơ hội sẽ tập trung nhiều hơn ở các doanh nghiệp có năng suất cao, năng lực công nghệ, khả năng kết nối chuỗi cung ứng và tham gia các ngành kinh tế mới. Lợi thế về đất đai, lao động giá rẻ hay quy mô thị trường sẽ khó tạo ra lợi thế dài hạn nếu không đi cùng năng lực nâng cao giá trị.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao, Quảng Ninh xác định hạ tầng kết nối là một trong những điều kiện quyết định. Hệ thống giao thông được định hướng phát triển đồng bộ giữa đường bộ, đường sắt, hàng không và cảng biển.
Trong đó, tuyến đường sắt mới dài 124 km được kỳ vọng tạo thêm một trục kết nối quan trọng giữa Quảng Ninh với các trung tâm kinh tế lớn. Tuyến cao tốc Nội Bài - Bắc Ninh - Hạ Long dài 57 km dự kiến hoàn thiện, góp phần khép kín hành lang giao thông phía Bắc. Cảng hàng không quốc tế Vân Đồn được định hướng nâng công suất lên 2,5 triệu khách/năm.
Ở lĩnh vực hàng hải, Quảng Ninh tập trung vào các cụm cảng Hòn Nét - Con Ong, Yên Hưng, Cái Lân, Hải Hà và Vạn Ninh - Vạn Gia. Nếu được kết nối và khai thác hiệu quả, hệ thống này có thể tạo nền tảng cho sự phát triển của logistics, công nghiệp hỗ trợ và thương mại xuyên biên giới.

Tuy nhiên, hạ tầng vật lý chỉ là một phần của năng lực cạnh tranh. Quảng Ninh xác định hạ tầng số là một dạng hạ tầng phát triển mới, được xây dựng song song với giao thông. Đến tháng 6/2026, tỉnh vận hành 5.970 trạm BTS, trong đó có 3.400 trạm 4G phủ 99,6% dân số và 676 trạm 5G phủ 94% dân số. Tỷ lệ FTTH đạt 97,74%.
Ba trung tâm dữ liệu đang duy trì hoạt động, bảo đảm kết nối đến 100% xã, phường và các đặc khu. Năm 2026, ngân sách dành 1.089 tỷ đồng cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, trong đó ngân sách cấp tỉnh 981 tỷ đồng và cấp xã gần 108 tỷ đồng.
Định hướng này mở ra dư địa lớn cho doanh nghiệp công nghệ, logistics, sản xuất thông minh và các dịch vụ dựa trên dữ liệu. Khi IoT, dữ liệu lớn và AI được đưa vào giao thông, năng lượng và dịch vụ công, giá trị tạo ra không chỉ nằm ở hiệu quả quản lý mà còn ở khả năng hình thành môi trường kinh doanh minh bạch, giảm chi phí và rủi ro vận hành.
Cùng với công nghệ, chất lượng sống được đặt vào trung tâm của mô hình phát triển. Các mục tiêu đến năm 2030 gồm 68 giường bệnh và 20 bác sĩ/1 vạn dân, 100% dân số tham gia bảo hiểm y tế, tuổi thọ bình quân trên 76; hơn 95% trường đạt chuẩn quốc gia và 90% lao động qua đào tạo, trong đó 48% có bằng cấp, chứng chỉ.
Quảng Ninh cũng đặt mục tiêu diện tích nhà ở bình quân 36 m²/người với quy mô dân số thường trú 1,75 triệu người, tỷ lệ thất nghiệp dưới 2%, 100% nước thải đô thị và khu công nghiệp được xử lý, tỷ lệ che phủ rừng trên 50%.
Những mục tiêu này tác động trực tiếp đến môi trường đầu tư khi hạ tầng, nhân lực và dịch vụ được nâng cấp đồng bộ, tạo điều kiện thu hút doanh nghiệp có nhu cầu về lao động chất lượng cao và hệ thống dịch vụ chuyên nghiệp. Dư địa thị trường tập trung ở bốn nhóm: logistics thông minh với kho bãi, kết nối số và 5G, IoT; đô thị thông minh gắn với nhu cầu nhà ở, dịch vụ; du lịch, kinh tế di sản và kinh tế đêm; công nghiệp công nghệ cao dựa trên hạ tầng dữ liệu và đổi mới sáng tạo. Với doanh nghiệp, dư địa tăng trưởng sẽ tập trung vào những lĩnh vực gắn với quá trình chuyển dịch cơ cấu và có khả năng tạo giá trị gia tăng cao.