Thứ năm, 04/08/2022 11:51 (GMT+7)

Phát triển ngành tre Việt Nam theo chuỗi giá trị hàng hoá và định hướng mô hình kinh tế tuần hoàn

Trần Thuỳ

Giá trị xuất khẩu tre Việt Nam đã mang về trị giá 348 triệu đô vào năm 2019 được đánh giá là không tương xứng với tiềm năng tre Việt Nam, trong khi giá trị ngành công nghiệp tre thế giới là hơn 57 tỷ đô vào năm 2020. Vì vậy, việc nghiên cứu phát triển ngành tre Việt Nam theo chuỗi giá trị hàng hoá và định hướng mô hình ki

Thực trạng ngành sản xuất tre Việt Nam


Theo báo cáo của Cục Hợp tác kinh tế và Phát triển nông thôn tại hội thảo "Vai trò của tre nguyên liệu đối với sự phát triển các chuỗi giá trị Tre Việt Nam" vừa được Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam VCCI phối hợp với Bộ NN&PTNT tổ chức ngày 4/8, hiện, tài nguyên tre Việt Nam rất phong phú và đa dạng với 30 chi và 216 loài. Trong đó có một số loài kinh tế cao như: luồng, lùng, trúc sào, lồ ô, bương, tầm vông, tre gai…


Tổng diện tích tre Việt Nam là 1.592.205 ha phân bố hầu hết các tỉnh trên cả nước, có 37/63 tỉnh có diện tích trên 10.000 ha. 


Trữ lượng ước tính khoảng 6,5 tỷ cây, hằng năm khai thác 500-600 triệu cây, khoảng 2,5-3,0 triệu tấn.


Các sản phẩm chính gồm có: nguyên liệu thô/vật liệu xây dựng; chiếu/mành; tre đan; dụng cụ gia đình (vali, giỏ, thùng…); ván sàn; ván ép; giấy tre/sợi tre/vải tre; thiết bị nội thất; than/ các sản phẩm từ than và dịch chiết từ than; măng.
 

Hội thảo "Vai trò của tre nguyên liệu đối với sự phát triển các chuỗi giá trị Tre Việt Nam". Ảnh: Trần Thuỳ


Đối với ngành công nghiệp tre luồng, ông Phạm Quốc Khánh - Trưởng ban vận động thành lập Hiệp hội tre Việt Nam cho biết, giá trị xuất khẩu tre Việt Nam mang về trị giá 348 triệu đô vào năm 2019 được đánh giá là không tương xứng với tiềm năng tre Việt Nam trong khi giá trị ngành công nghiệp tre thế giới là hơn 57 tỷ đô vào năm 2020.


Thị trường xuất khẩu chủ yếu là tre thủ công Mỹ nghệ tới thị trường Nhật, EU, Mỹ.


Tuy nhiên hiện nay, nước ta vẫn đang thiếu sản phẩm công nghiệp có giá trị cao và 65% nguyên liệu tre không qua chế biến và sử dụng cho mục đích có giá trị kinh tế thấp như tre xây dựng và đũa dùng một lần, giấy vàng mã. 


Bên cạnh đó, vẫn còn tình trạng sản xuất quy mô nhỏ, thiếu đầu tư và công nghệ, lãng phí nguyên liệu, giá thành cao và chưa sản xuất được quy mô công nghiệp với mô hình kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, chưa có chính sách riêng biệt cho ngành tre luồng.
 

Tiềm năng cho ngành tre


Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Điều phối viên dự án Phát triển bền vững và toàn diện chuỗi giá trị Nghêu/Tre Việt Nam nhấn mạnh, tre là loại cây có giá trị kinh tế cao bởi đây là loài thực vật phát triển nhanh nhất thế giới, tre cung cấp nguồn nguyên liệu bền vững và có thể tái tạo được, đồng thời tre có thể thay thế gỗ trong hầu hết mọi ứng dụng. 


Không chỉ vậy, thế giới đang hướng tới xu hướng tiêu dùng văn minh và ý thức hơn trong việc bảo vệ môi trường. Tre cung cấp nhiều hơn khoảng 35% oxy và hấp thụ nhiều hơn 40% oxy và hấp thụ nhiều hơn 40% carbon dioxide so với loài cây khác. Tre ngăn chặn xói mòn và phục hồi đất thị thoái hoá…


Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng chỉ ra xu hướng thị trường và sở thích của người tiêu dùng ở châu  u. Cụ thể, với xu hướng xã hội:


Nhân khẩu học: Thay đổi từ gia đình truyền thống sang hộ đơn lẻ hoặc hộ chia sẻ. Những thay đổi này có thể ảnh hưởng đến nhu cầu đối với các sản phẩm, chẳng hạn như các giải pháp lưu trữ hoặc trang trí cho các ngôi nhà ở chung.


Tính bền vững xã hội: Phương thức sản xuất bền vững, chứng nhận về công bằng thương mại, xã hội ngày càng trở nên quan trọng hơn.


Phong cách sống: gia tăng trong nhu cầu giải trí ngoài trời khu du lịch dẫn đến nhu cầu tiêu thụ ngoại thất tăng.


Xu hướng môi trường: Với khả năng linh hoạt về kỹ thuật và đặc tính thân thiện với môi trường, tre đang được ưa chuộng và có thể thay thế cho gỗ; những lo ngại về biến đổi khí hậu sẽ được tre giải quyết nhờ cung cấp một bể chứa carbon quy mô lớn…


Ngoài ra, một số xu hướng nổi bật liên quan đến tre nguyên liệu gồm có măng. Phân khúc ứng dụng măng nổi lên là phân khúc lớn thứ hai vào năm 2020 vì măng được coi là một loại thực phẩm quan trọng đối với sức khoẻ vì chúng chưa các axit amin, protein cao, vitamin A, vitamin B6…


Mảng ứng dụng đồ nội thất dự kiến sẽ đạt tốc độ tăng trưởng kép hằng năm là 5% trong giai đoạn dự báo do xu hướng mới nổi của các thiết kế nội thất bền vững trong các tòa nhà xanh hoặc trung tính với môi trường.


Đặc biệt, mảng ứng dụng sản phẩm công nghiệp chiếm tỷ trọng doanh thu lớn nhất trên 35% vào năm 2020 do có nhiều ứng dụng trong thực phẩm hiện đại và các doanh nghiệp công nghiệp.


Để xây dựng mối quan hệ kinh doanh lâu dài với khách hàng châu Âu, bà Thanh Huyền cho rằng cần hiểu biết kỹ càng về sản phẩm để trao đổi thông tin và thuyết phục khách hàng. Xây dựng lòng tin bằng cách chỉ định một (hoặc hai người) liên hệ với một vai trò xác định (ví dụ quản lý bán hàng hoặc thương mại) để đối tác kinh doanh châu  u biết, làm quen và xây dựng lòng tin cũng như mối quan hệ cá nhân.


Bên cạnh đó, cần đảm bảo tính minh bạch, hiểu biết các tiêu chuẩn của thị trường EU…
 

Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Điều phối viên dự án Phát triển bền vững và toàn diện chuỗi giá trị Nghêu/Tre Việt Nam. Ảnh: Trần Thuỳ
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Điều phối viên dự án Phát triển bền vững và toàn diện chuỗi giá trị Nghêu/Tre Việt Nam. Ảnh: Trần Thuỳ


Bà Thanh Huyền cho biết thêm, hiện đối thủ cạnh tranh với ngành tre của nước ta là Trung Quốc. Trung Quốc đang dẫn đầu không chỉ về sản lượng mà còn về năng lực và kỹ thuật chất lượng.


Theo đó, để đối phó với sự cạnh tranh với mặt hàng tre của Trung Quốc, không nên cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại mà phải phát triển các sản phẩm mới, ví dụ như những thiết kế độc đáo (chiều rộng, độ dày, màu sắc…) hoặc sản phẩm có công dụng mới…
 

Những giải pháp


Ông Phạm Quốc Khánh cho rằng, cần quy hoạch vùng nguyên liệu tre đáp ứng sản xuất công nghiệp. Cụ thể:


Trồng vùng nguyên liệu: lựa chọn các tỉnh có thổ nhưỡng và khí hậu phù hợp để phát triển vùng nguyên liệu tập trung và lớn như Thanh Hoá, Nghệ An, Hoà Bình, Sơn La.


Lựa chọn giống: lựa chọn một số giống có giá trị kinh tế cao như luồng, tre lấy măng, tre nghệ, sặt, tầm vông, nứa và giang.


Trồng và khai thác: đào tạo và hỗ trợ kỹ thuật cho người trồng theo mô hình quản lý bền vững có chứng chỉ FSC, hợp tác xã là trung tâm tổ chức sản xuất và kết nối người trồng và doanh nghiệp.


Trung tâm nghiên cứu và bảo tồn tre: bảo tồn giống tre, phát triển giống tre có giá trị kinh tế cao thay thế cho giống tre bị thoái hoá và tạo khu vườn ươm lớn để trồng với diện tích lớn.


Ngoài ra, cần có gói hỗ trợ phát triển ngành tre, bao gồm:


Vốn vay: nông dân và doanh nghiệp được ưu tiên tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng…


Giống: UBND tỉnh, huyện, Uỷ ban dân tộc cấp tài chính để nông dân mua giống tre mới thay thế tre bị thoái hoá, giá trị kinh tế thấp.


Máy móc và công nghệ: Nghiên cứu cơ chế tài chính Nhà nước hỗ trợ một phần tài chính để doanh nghiệp đầu tư công nghệ và máy móc hiện đại cho sản xuất công nghiệp.


Đào tạo: Trung tâm nghiên cứu, trường nghề ưu tiên hỗ trợ đào tạo nghề cho ngành tre, chuyển đổi số và đào tạo marketing cho các doanh nghiệp ngành tre.


Nghiên cứu và phát triển: Thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển ngành tre để chuyển giao công nghệ và sản phẩm mới cho doanh nghiệp.


Trung tâm xúc tiến thương mại: Bộ NN&PTNT, VCCI hỗ trợ ngành tre xúc tiến thương mại và kết nối doanh nghiệp với thị trường trong nước và quốc tế.


Chính sách: Bộ NN&PTNT chủ trì để ban hành các chính sách riêng biệt cho ngành tre, coi ngành tre là ngành kinh tế quan trọng phát triển bền vững khu vực nông thôn và miền núi.


Hiệp hội tre: Bộ Nội vụ hỗ trợ thành lập Hiệp hội tre Việt Nam sớm để xây dựng chiến lược phát triển ngành tre.

Phát triển kinh tế tuần hoàn để có nền kinh tế xanh 

Phát triển kinh tế tuần hoàn để có nền kinh tế xanh 

Tại Diễn đàn "Phát triển kinh tế xanh vùng Đông Nam Bộ", do Thời báo Tài chính Việt Nam phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức tại TP. HCM, nhiều chuyên gia cho rằng, Việt Nam còn nhiều việc phải làm để thúc đẩy sử dụng năng lượng hiệu quả, tiết kiệm... Đồng thời, để có một nền kinh tế xanh thì việc phát triển kinh tế tuần ho&agra
Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn vì một thập niên tăng trưởng xanh và bền vững

Thúc đẩy kinh tế tuần hoàn vì một thập niên tăng trưởng xanh và bền vững

Ngày 24/09/2020, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VBCSD-VCCI) phối hợp với Ủy ban Tăng trưởng xanh của Eurocham (GGSC) tổ chức Hội thảo chuyên đề Thúc đẩy Kinh tế Tuần hoàn: Vì một thập niên tăng trưởng nhanh và bền vững trong khuôn khổ diễn đàn Doanh nghiệp phát triển bền vững Việt Nam (VCSF) 2020.
Phương pháp tiếp cận đa bên – Chìa khóa thành công của nền kinh tế tuần hoàn

Phương pháp tiếp cận đa bên – Chìa khóa thành công của nền kinh tế tuần hoàn

Ngày 30/11, tại Hà Nội, Đại sứ quán Na Uy tại Hà Nội, Cơ quan thương mại của Đại sứ quán - Innovation Norway, Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Tổng cục Môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường của Việt Nam (Bộ TN&MT) đồng tổ chức hội thảo chuyên đề trực tuyến “Tiếp cận Đa bên – Chìa khóa Thành công của nền Kinh tế Tuần hoàn”.
Kinh tế tuần hoàn là xu thế tất yếu của phát triển bền vững

Kinh tế tuần hoàn là xu thế tất yếu của phát triển bền vững

Theo Bộ Trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), kinh tế tuần hoàn đang trở thành xu thế tất yếu nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong bối cảnh tài nguyên ngày càng suy thoái, cạn kiệt, môi trường bị ô nhiễm, biến đổi khí hậu diễn biến khốc liệt.
Phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn để tăng trưởng bền vững

Phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn để tăng trưởng bền vững

Kinh tế tuần hoàn đem đến một góc nhìn mới về việc sử dụng các nguồn nguyên vật liệu theo chiều hướng hiệu quả, tiết kiệm hơn; đồng thời không ngừng nhắc nhở người dân sử dụng các nguồn lực hữu hạn với vòng đời dài hơn, đạt giá trị cao hơn.