hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chế biến sâu, chuyển đổi số và phát triển bền vững giúp doanh nghiệp nâng cao giá trị nông sản Việt, song các điểm nghẽn thể chế vẫn cần được tháo gỡ.
Trong bối cảnh thị trường toàn cầu liên tục biến động với các tiêu chuẩn kỹ thuật ngày càng khắt khe, câu chuyện tăng trưởng của những doanh nghiệp đầu ngành đã chứng minh rằng xuất khẩu nông sản thô không còn là con đường dài hạn. Muốn gia tăng giá trị và nâng cao vị thế, doanh nghiệp buộc phải chuyển dịch mạnh mẽ sang chế biến sâu, ứng dụng công nghệ và xây dựng thương hiệu bài bản.

Thực tế tại Tập đoàn Phúc Sinh thể hiện rõ hiệu quả của hướng đi này. Bất chấp những thách thức chung, doanh nghiệp đặt mục tiêu tăng trưởng doanh thu khoảng 25% trong năm 2026. Tính riêng 6 tháng đầu năm 2026, doanh thu đạt khoảng 6.000 tỷ đồng và dự kiến cả năm sẽ vượt mốc 420 triệu USD.
Kết quả này đến từ chiến lược tái đầu tư liên tục vào hạ tầng sản xuất. Bắt đầu từ nhà máy chế biến đầu tiên năm 2005, đến nay doanh nghiệp sở hữu 6 nhà máy và đang triển khai thêm hai dự án quy mô lớn, bao gồm trung tâm chế biến tại Đắk Nông.
Việc tập trung vào các sản phẩm giá trị gia tăng cao như tiêu xanh sấy lạnh, tiêu hồng sấy lạnh hay trà Cascara từ vỏ quả cà phê chín đã giúp doanh nghiệp khai thác hiệu quả các thị trường ngách, tạo sự khác biệt rõ nét. Đồng thời, việc áp dụng các chuẩn mực phát triển bền vững từ năm 2008 giúp chuỗi cung ứng dễ dàng đáp ứng những yêu cầu khắt khe từ thị trường châu Âu.
Cùng chung định hướng, Công ty cổ phần Nafoods Group lựa chọn mô hình chuỗi giá trị khép kín, xuất phát từ nhu cầu thị trường để quay lại tổ chức khâu giống, vùng trồng và chế biến. Với 5 nhà máy, 2 viện nghiên cứu giống công nghệ cao và hơn 50.000 ha vùng nguyên liệu liên kết cùng hợp tác xã, doanh nghiệp đã đưa sản phẩm tới khoảng 70 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Việc đầu tư cho chế biến sâu kết hợp chuyển đổi số, quản trị dữ liệu vùng trồng và truy xuất nguồn gốc không chỉ kéo dài thời gian bảo quản, giảm áp lực tiêu thụ mùa vụ mà còn nâng cao năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu.
Dù các mô hình tiên phong đã chứng minh được tính hiệu quả, tổng thể ngành nông nghiệp vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống. Theo thống kê, tỷ trọng đóng góp của khu vực nông nghiệp trong GDP đang có xu hướng giảm dần, từ 12,34% năm 2024 xuống 11,2% năm 2025 và dự báo còn khoảng 10,38% trong năm 2026. Điều này phản ánh rõ nếu tiếp tục phát triển dựa trên việc mở rộng diện tích hay gia tăng sản lượng thuần túy, ngành nông nghiệp sẽ sớm đụng trần tăng trưởng.

Phân tích về những điểm nghẽn hiện nay, TS. Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cho rằng, quá trình tích tụ đất đai theo Luật Đất đai dù đã có cơ chế mở nhưng thực thi tại địa phương vẫn thiếu linh hoạt. Việc chuyển đổi mô hình sản xuất trên đất lúa hoặc triển khai nông nghiệp công nghệ cao gặp nhiều vướng mắc về thủ tục hành chính.
Bên cạnh đó, chính sách tín dụng hiện nay chủ yếu dựa vào tài sản thế chấp thay vì đánh giá dòng tiền hay hiệu quả dự án. Các tài sản trên đất nông nghiệp như nhà kính, hệ thống chuồng trại, cơ sở chế biến chưa được định giá phù hợp để làm tài sản bảo đảm, khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn vốn mở rộng quy mô. Thêm vào đó, chi phí logistics cao, hạ tầng kho lạnh thiếu đồng bộ và chuỗi phân phối qua nhiều tầng nấc trung gian đang làm bào mòn lợi nhuận của cả nông dân lẫn doanh nghiệp.
Từ góc độ vận hành, ông Nguyễn Mạnh Hùng, Tổng Giám đốc Nafoods Group chỉ ra thách thức lớn nhất không nằm ở năng lực sản xuất mà ở khả năng đáp ứng hệ thống tiêu chuẩn khắt khe của quốc tế. Các thị trường lớn như Mỹ hay châu Âu không chỉ kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật mà còn siết chặt các tiêu chí về phát thải, truy xuất nguồn gốc và an toàn môi trường.
Ngay cả những chỉ tiêu kỹ thuật phát sinh từ môi trường canh tác như hàm lượng Nickel cũng có thể trở thành rào cản xuất khẩu. Ngoài ra, sự thiếu bền vững trong liên kết chuỗi vẫn là rủi ro lớn. Doanh nghiệp từng phải đóng cửa nhà máy vì vùng nguyên liệu bị phá vỡ khi người dân bán ra ngoài cho thương lái lúc giá tăng ngắn hạn.
Để nông sản Việt Nam thực sự bứt phá, giới chuyên gia và các doanh nghiệp kiến nghị Nhà nước cần sớm hoàn thiện thể chế theo hướng hỗ trợ phát triển toàn diện chuỗi giá trị. Cụ thể là tháo gỡ linh hoạt cơ chế đất đai, cải cách chính sách tín dụng theo hướng cho vay dựa trên dòng tiền dự án, đầu tư mạnh mẽ cho hạ tầng logistics và trung tâm chế biến vùng.
Cùng với đó, chuyển đổi số cần được triển khai thực chất từ nhu cầu thực tế của người sản xuất, đưa hợp tác xã trở thành cầu nối hiệu quả giữa nông dân và doanh nghiệp. Chỉ khi các nút thắt về thể chế, nguồn vốn và dữ liệu được giải quyết đồng bộ, doanh nghiệp mới có đủ lực đẩy để đầu tư dài hạn, đưa nông sản Việt Nam khẳng định vị thế bền vững trên bản đồ thế giới.