hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Lấy liên kết chuỗi, chế biến sâu và ứng dụng công nghệ làm động lực, Nghệ An đang định hình mô hình phát triển nông nghiệp hiện đại, nâng cao giá trị nông sản và tăng sức cạnh tranh trên thị trường trong nước, quốc tế.
Ngành nông nghiệp đang đứng trước yêu cầu chuyển đổi từ sản xuất truyền thống sang phát triển theo hướng hiện đại, việc xây dựng các vùng nguyên liệu tập trung, ứng dụng công nghệ cao, phát triển chế biến sâu và mở rộng thị trường tiêu thụ được xem là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của địa phương.
Tại Nghệ An, định hướng này vừa được cụ thể hóa bằng Quyết định số 2948/QĐ-UBND của UBND tỉnh về phê duyệt Đề án phát triển cây trồng, vật nuôi chủ lực gắn với chế biến, bảo quản và liên kết chuỗi giá trị sản phẩm đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đề án xác định mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, hình thành các vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô lớn, gắn với công nghệ chế biến và bảo quản hiện đại, đồng thời xây dựng thương hiệu nông sản phục vụ cả thị trường trong nước và xuất khẩu.
Giai đoạn 2026-2030, Nghệ An đặt mục tiêu tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chủ lực đạt bình quân 5-5,5%/năm, đóng góp 80-85% tổng giá trị ngành nông, lâm, thủy sản của tỉnh.
Kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm chủ lực dự kiến chiếm 93-95% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành. Cùng với đó, tỉnh phấn đấu xây dựng mới 100-150 chuỗi liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, thu hút 150-165 doanh nghiệp và 300 hợp tác xã tham gia, bảo đảm 100% sản phẩm trong chuỗi được kiểm soát chất lượng.
Xa hơn, đến năm 2045, Nghệ An hướng tới xây dựng nền nông nghiệp hiện đại, trở thành trụ cột của kinh tế nông thôn. Theo đó, toàn bộ các cây trồng, vật nuôi chủ lực sẽ được tổ chức sản xuất tập trung quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp số, kinh tế tuần hoàn, đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế và sở hữu thương hiệu có khả năng cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.
Một điểm nổi bật của đề án là việc xây dựng định hướng cụ thể đối với từng nhóm cây trồng, vật nuôi chủ lực, tạo cơ sở cho quá trình tái cơ cấu sản xuất.
Đối với lúa, Nghệ An duy trì diện tích 163.500 ha hai vụ, sản lượng khoảng 932.000 tấn/năm, trong đó trên 90% sử dụng giống chất lượng cao. Tỉnh đặt mục tiêu áp dụng cơ giới hóa đồng bộ, chuyển đổi số trên hơn 20.000 ha, đồng thời nâng công suất chế biến lên 700.000-800.000 tấn/năm và hình thành từ 3-5 trung tâm chế biến, logistics hiện đại.
Với mía, diện tích được mở rộng lên 25.700 ha, sản lượng khoảng 2,2 triệu tấn/năm; khoảng 10.000 ha được sản xuất theo tiêu chuẩn công nghệ cao hoặc VietGAP. Chuỗi giá trị sẽ được tối ưu theo hướng kinh tế tuần hoàn, tận dụng bã mía để phát điện và mật rỉ để sản xuất cồn hoặc thức ăn chăn nuôi.
Đối với dứa, tỉnh Nghệ An đặt mục tiêu phát triển 13.000 ha, sản lượng 300.000 tấn/năm, ưu tiên các giống chất lượng cao như MD2, Cayen và Queen; phấn đấu 70-80% sản lượng được chế biến sâu, đồng thời khai thác phụ phẩm để sản xuất enzyme Bromelain, vải và giấy từ lá dứa.

Ở nhóm rau, củ, quả, diện tích dự kiến đạt 45.000 ha, trong đó 4.500 ha ứng dụng công nghệ cao và 25-30% diện tích đạt tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP hoặc hữu cơ. Nghệ An cũng định hướng phát triển chuỗi logistics lạnh và kết hợp sản xuất với du lịch nông nghiệp, farmstay.
Đối với cam, tỉnh Nghệ An phát triển khoảng 4.000 ha, sản lượng 57.600 tấn/năm, tập trung vào các giống đặc sản như Cam Xã Đoài, Cam V2 và cam không hạt; đồng thời ứng dụng công nghệ bảo quản hiện đại để kéo dài thời gian lưu trữ từ 20-30 ngày, hướng tới xuất khẩu đạt 5-10 triệu USD/năm sang Nhật Bản, Hàn Quốc và thị trường EU.
Bên cạnh đó, Nghệ An tiếp tục phát triển 12.000 ha chè, 8.000 ha dược liệu, 180.000 ha rừng trồng và mở rộng diện tích rừng đạt chứng chỉ quốc tế FSC, PEFC, VFCS lên 55.000-60.000 ha, tạo nền tảng phát triển ngành lâm nghiệp chất lượng cao.
Trong lĩnh vực chăn nuôi, Nghệ An đặt mục tiêu phát triển tổng đàn lợn đạt 1,3 triệu con, gia cầm 56 triệu con, bò thịt 555.000 con, bò sữa 95.000 con, đồng thời mở rộng quy mô nuôi tôm công nghệ cao và nuôi cá lồng trên các hồ chứa lớn, gắn với phát triển du lịch trải nghiệm.
Đáng chú ý, các mục tiêu đều gắn với yêu cầu ứng dụng công nghệ hiện đại, phát triển chế biến sâu và xây dựng chuỗi sản phẩm đủ điều kiện xuất khẩu.
Để hiện thực hóa các mục tiêu của đề án, Nghệ An xác định khoa học công nghệ và liên kết sản xuất là hai trụ cột quan trọng.

Theo đó, tỉnh sẽ ưu tiên phát triển các hợp tác xã kiểu mới, đóng vai trò cầu nối giữa nông dân với doanh nghiệp thông qua các hợp đồng bao tiêu ổn định, góp phần hình thành chuỗi sản xuất khép kín từ nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ.
Song song với đó là đẩy mạnh xây dựng, bảo hộ thương hiệu các sản phẩm chủ lực như Cam Vinh, gạo chất lượng cao và mở rộng tiêu thụ thông qua các sàn thương mại điện tử.
Đề án cũng đặt mục tiêu đưa Nông nghiệp 4.0 vào sản xuất bằng việc ứng dụng cảm biến, Internet vạn vật (IoT), thiết bị bay không người lái (drone), số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng thông qua mã số vùng trồng, nhật ký điện tử, hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR và công nghệ Blockchain.
Cùng với đó, tỉnh Nghệ An sẽ triển khai nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã, từ tạo điều kiện tiếp cận vốn, thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đến ưu đãi về thuê đất và thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các dự án nông nghiệp công nghệ cao và chế biến sâu.
Bên cạnh đầu tư hạ tầng và cơ chế chính sách, Nghệ An tiếp tục đẩy mạnh đào tạo, tập huấn cho người dân về các tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, nông nghiệp hữu cơ và khuyến khích ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất.