hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Tại lễ hội "Tôn vinh cà phê - trà Việt" lần 4 – 2026, nhiều chuyên gia, doanh nghiệp và nhà quản lý đã đề xuất các giải pháp then chốt nhằm nâng cao giá trị ngành cà phê - trà Việt.
Cà phê là cây công nghiệp chủ lực của Việt Nam. Hiện, cà phê Việt Nam đã có mặt ở hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ. Ngành cà phê đóng góp khoảng 2,5% GDP cả nước, tạo việc làm và thu nhập ổn định cho trên 2 triệu người lao động. Việt Nam có diện tích trồng cà phê hơn 710.000 ha, xếp thứ 6 thế giới và đang là nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn thứ 2 toàn cầu, chỉ sau Brazil.
Về ngành trà, theo Hiệp hội Chè Việt Nam, tính đến cuối năm 2025, cả nước duy trì 128.000 ha diện tích trồng chè, bảo đảm nguồn cung cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Việt Nam xuất khẩu 136.950 tấn trà, đạt trên 238 triệu USD, giá xuất khẩu bình quân 1.737 USD/tấn. Hiện có 390 doanh nghiệp và cá nhân tham gia xuất khẩu trà. Trà Việt đã có mặt tại 72 thị trường, trong đó 15 thị trường nhập khẩu trên 1.000 tấn/năm. Thị trường nội địa cũng tiêu thụ khoảng 75.000 tấn, doanh thu 15.000 tỉ đồng (tương đương 577 triệu USD).
Vấn đề đặt ra là làm thế nào để tăng trưởng xuất khẩu cà phê bền vững, tạo ra nhiều giá trị hơn nữa, đặc biệt là tăng tỉ lệ chế biến sâu và tiếp cận được đông đảo hơn người tiêu dùng toàn cầu. Làm thế nào tạo xung lực cho ngành trà vươn lên, xứng tầm với vị trí thứ 5 thế giới về trữ lượng mà Việt Nam đang có.
Đây cũng là câu hỏi đang được các chuyên gia, doanh nghiệp, nhà quản lý quan tâm cùng đề cập, cần có câu trả lời thỏa đáng.

Đề cập vấn đề xây dựng chuỗi giá trị dài hạn, bà Cao Xuân Thu Vân - Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam cho rằng, chuỗi liên kết của ngành cà phê hiện nay chính là quản trị chuỗi cung ứng bằng hợp đồng. Tuy nhiên, vấn đề không nằm ở chỗ chưa có hợp đồng, mà nằm ở chỗ các hợp đồng đó chưa đủ mạnh, chưa đủ bền và chưa đủ kỷ luật để tạo ra giá trị.
Chính vì vậy, để chuỗi liên kết thực sự hiệu quả, không chỉ cần ký hợp đồng mà quan trọng hơn là thiết kế được hệ thống hợp đồng có tính ràng buộc, có chia sẻ lợi ích và có cơ chế thực thi đủ mạnh. Trong cấu trúc đó, hợp tác xã cần được xác định là một chủ thể rất quan trọng.
Về phía doanh nghiệp (DN), cần chuyển từ tư duy mua bán ngắn hạn sang xây dựng chuỗi giá trị dài hạn. Phía ngân hàng cũng cần phát triển các mô hình tín dụng dựa trên hợp đồng đầu ra, coi hợp đồng là một dạng tài sản bảo đảm, thay vì chỉ dựa vào tài sản vật chất. Và về phía chính sách, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý để bảo vệ các hợp đồng kinh tế trong chuỗi liên kết.
Còn theo bà Bùi Hoàng Yến - phụ trách Văn phòng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương tại TP HCM, việc xây dựng thương hiệu cần được kể bằng câu chuyện sản phẩm đủ hấp dẫn để thu hút người tiêu dùng trên các kệ hàng quốc tế. Việt Nam có lợi thế về bản sắc văn hóa riêng, và đây chính là nguồn chất liệu quan trọng để xây dựng câu chuyện cho sản phẩm.
Theo bà Yến, mục tiêu sắp tới là đưa cà phê Việt Nam lên tầm cao mới, chuyển từ xuất khẩu hàng xô, hàng container sang xuất khẩu cà phê đặc sản mang bản sắc riêng. Để làm được điều này, cần sự phối hợp giữa Hiệp hội Cà phê - Ca cao Việt Nam, các vùng trồng trọng điểm như Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai, cùng truyền thông và sự hỗ trợ tài chính từ ngân hàng nhằm thúc đẩy xuất khẩu cà phê chế biến.
Bên cạnh đó, ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ then chốt về nguồn lực tài chính. Xét về thứ tự ưu tiên, DN cho rằng thị trường cần đi trước để định hướng đầu tư, còn công nghệ có thể triển khai sau. Do đó, DN đang chủ động lựa chọn thị trường phù hợp, triển khai từng bước chắc chắn trước khi đầu tư mạnh vào chế biến sâu, đồng thời cân nhắc tham gia phân khúc cà phê đặc sản như một hướng đi chiến lược.
Ông Nguyễn Quang Bình - chuyên gia thị trường cà phê cho rằng, một vấn đề lớn được chỉ ra là cà phê Việt Nam vẫn chủ yếu bán theo kiểu "trôi nổi", chưa hình thành được chuỗi cung ứng rõ ràng, bài bản. DN trong nước cũng chưa nhận được sự hỗ trợ tương xứng, đặc biệt từ hệ thống ngân hàng, lực lượng có vai trò quan trọng trong việc kết nối và duy trì chuỗi cung ứng.
Từ thực tế này cho thấy cần có sự đồng hành chặt chẽ hơn từ phía ngân hàng đối với DN trong nước, qua đó thúc đẩy phát triển cà phê đặc sản, xây dựng chuỗi cung ứng và thương hiệu. Đồng thời, cần hỗ trợ các nhóm nông dân sản xuất cà phê đặc sản tham gia thị trường một cách bài bản hơn.
Một khi tổ chức được thị trường và xây dựng được chuỗi giá trị rõ ràng, cà phê Việt Nam mới có thể tạo dựng thương hiệu bền vững.
Đại diện ngân hàng Nam A Bank cho biết, lĩnh vực trà và cà phê đang được hưởng nhiều chính sách ưu tiên về tín dụng. Thời gian qua, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các ngân hàng tập trung nguồn vốn cho khu vực nông, lâm, thủy sản, với quy mô khoảng 100.000 tỉ đồng.
Do đó, để tiếp cận các ưu đãi trong lĩnh vực cà phê - trà, DN cần đáp ứng một số điều kiện cơ bản. Trước hết là có năng lực sản xuất, đầu tư máy móc và tham gia vào chuỗi giá trị từ trồng trọt, chế biến đến thương mại, xuất khẩu. Trong đó, những DN sở hữu vùng nguyên liệu được ưu tiên hơn.
Ngoài ra, phương án kinh doanh phải khả thi, thể hiện qua tài chính minh bạch, lịch sử tín dụng tốt (không có nợ xấu trên hệ thống CIC), cùng với đầu ra rõ ràng như hợp đồng xuất khẩu, thông tin thị trường, giá cả, sản lượng và lịch sử giao dịch. Trong đó, tài sản bảo đảm là một trong những điều kiện quan trọng khi xét cấp tín dụng.
Ở góc độ địa phương, ông Nguyễn Thiên Văn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk đề xuất, cần tập trung chế biến sâu để nâng cao chất lượng, giá trị.
Theo đó, Đắk Lắk hiện còn nhiều dư địa để phát triển chế biến sâu. Dư địa này đến từ nguồn nguyên liệu lớn, tương đối ổn định; chất lượng ngày càng được cải thiện; hệ sinh thái DN đang trưởng thành; nhu cầu đổi mới công nghệ; xu hướng tiêu dùng mới trong và ngoài nước; đặc biệt là khát vọng chuyển dịch từ xuất khẩu thô sang xuất khẩu giá trị gia tăng cao.
Theo ông Thái Anh Tuấn - Tổng Giám đốc Công ty TNHH MTV Xuất nhập khẩu 2-9 Đắk Lắk (Simexco Daklak), để phát triển chế biến sâu, cần hội đủ 3 yếu tố cốt lõi là vốn, công nghệ và thị trường. Trong đó, DN phải bám sát nhu cầu thị trường, đồng thời bảo đảm nguồn cung ổn định từ các hợp tác xã. Hiện nay, hoạt động xuất khẩu đã tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế với hệ thống truy xuất nguồn gốc đầy đủ, cho phép người mua theo dõi đến từng container, từng hộ nông dân và vùng trồng cụ thể.
Theo nhà báo – TS Tô Đình Tuân - Tổng Biên tập Báo Người Lao Động, ngành cà phê trong 3 năm qua dù chưa có bước phát triển mạnh về chế biến sâu, chủ yếu tập trung vào sản xuất nhưng kim ngạch vẫn tăng hơn gấp đôi. Vì vậy, nếu thúc đẩy chế biến sâu hiệu quả, kim ngạch xuất khẩu cà phê trong 3-4 năm tới hoàn toàn có thể nâng lên 18-20 tỉ USD.
Để đạt được mục tiêu này, thứ nhất cần xác định chế biến sâu là một trục chiến lược quốc gia, với sự tham gia của DN, các cơ quan, ban ngành, các đơn vị liên quan và cả cơ quan truyền thông.
Thứ hai, cần tạo cú hích về tài chính cho DN, vì đây là điểm nghẽn lớn nhất.
Thứ ba, phát triển vùng nguyên liệu chuẩn hóa, nếu không thì không thể phát triển chế biến sâu. Thứ tư, tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài và chuyển giao công nghệ. Thứ năm, xây dựng thương hiệu cà phê Việt Nam ở cấp độ cộng đồng, song song với thương hiệu DN.
Thứ sáu, phát triển cà phê đặc sản và phân khúc cao cấp. Thứ bảy, cần đẩy mạnh tham gia các hội chợ quốc tế, đồng thời phát triển thương mại điện tử và các chuỗi F&B (dịch vụ ăn uống) quốc tế. Thứ tám, hoàn thiện chính sách đồng bộ, bởi nếu chỉ DN nỗ lực là chưa đủ.