hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Mục tiêu có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động vào năm 2030 không chỉ là một chỉ tiêu về số lượng mà còn là phép thử đối với năng lực cải cách thể chế và sức hấp thụ của nền kinh tế.
Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân (Nghị quyết 68) được xem là bước ngoặt khi lần đầu xác lập khu vực kinh tế tư nhân là"động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế. Tuy nhiên, để mục tiêu trở thành hiện thực, điều quan trọng không chỉ nằm ở những chính sách hỗ trợ mới mà còn ở khả năng tháo gỡ các rào cản đã tồn tại nhiều năm, từ môi trường pháp lý, chi phí tuân thủ đến khả năng tiếp cận nguồn lực phát triển.
Lần đầu tiên, khu vực kinh tế tư nhân được xác định là"động lực quan trọng nhất" của nền kinh tế quốc gia. Đây là bước chuyển trong tư duy phát triển, đưa doanh nghiệp tư nhân từ vị trí là một thành phần của nền kinh tế trở thành lực lượng trung tâm trong chiến lược tăng trưởng dài hạn.
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động. Theo tính toán, để đạt được mục tiêu này, mỗi năm nền kinh tế cần bổ sung khoảng 200.000 doanh nghiệp mới, tương đương tốc độ tăng trưởng bình quân 10-20%/năm, cao hơn nhiều so với mức tăng khoảng 3-4% hoặc thấp hơn hiện nay.

Khoảng cách khá lớn giữa mục tiêu và thực tiễn cho thấy bài toán đặt ra không đơn thuần là gia tăng số lượng doanh nghiệp đăng ký thành lập mà quan trọng hơn là phải tạo dựng một môi trường kinh doanh đủ hấp dẫn để doanh nghiệp có thể hình thành, phát triển và mở rộng quy mô bền vững.
Chính vì vậy, điểm đột phá của Nghị quyết 68 không nằm ở các chính sách hỗ trợ riêng lẻ mà ở việc thay đổi cách tiếp cận đối với khu vực kinh tế tư nhân. Doanh nghiệp không còn được nhìn nhận chủ yếu dưới góc độ quản lý mà được xác định là đối tác phát triển, lực lượng tiên phong kiến thiết nền kinh tế. Doanh nhân cũng được đề cao là những người trực tiếp tạo việc làm, đóng góp nguồn thu ngân sách và thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Sự thay đổi về vị thế kéo theo yêu cầu bảo đảm cạnh tranh bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực như vốn, đất đai, khoa học công nghệ, nhân lực và cơ hội đầu tư. Đặc biệt, doanh nghiệp tư nhân được mở rộng cơ hội tham gia các dự án hạ tầng quy mô lớn, các dự án chiến lược quốc gia - lĩnh vực vốn trước đây chủ yếu dành cho doanh nghiệp nhà nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài.
Không chỉ vậy, Nghị quyết cũng mở rộng không gian tham gia của cộng đồng doanh nghiệp trong quá trình xây dựng và phản biện chính sách, qua đó từng bước hình thành cơ chế phát triển dựa trên đối thoại và đồng hành giữa Nhà nước với doanh nghiệp.
Nếu việc xác lập vị thế mới tạo nên nền tảng về tư duy thì quá trình hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp lại phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả cải cách thể chế.
Theo TS.Nguyễn Đình Cung, mục tiêu này là"áp lực cực kỳ lớn" nếu việc triển khai vẫn được thực hiện theo phương thức cũ. Ông cho rằng, nếu tiếp tục giao toàn bộ việc thực thi cho các bộ, ngành và địa phương thì tiến độ cải cách sẽ khó đáp ứng yêu cầu bởi nguy cơ phát sinh tư duy cục bộ và lợi ích riêng trong quá trình thực hiện.

Từ đó, ông đề xuất thành lập một Tổ công tác đặc biệt, quy tụ các chuyên gia độc lập, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Thủ tướng Chính phủ nhằm rà soát toàn diện các quy định, điều kiện kinh doanh, đồng thời theo dõi, đánh giá định kỳ sự biến động của doanh nghiệp để kịp thời điều chỉnh chính sách.
Đề xuất này xuất phát từ thực tế nhiều rào cản của doanh nghiệp không nằm ở chủ trương mà nằm ở khâu tổ chức thực hiện.
Đồng quan điểm về yêu cầu cải cách thể chế, chuyên gia Đỗ Thiên Anh Tuấn cho rằng quá trình triển khai Nghị quyết vẫn đang đối mặt với 8 thách thức lớn, trong đó nổi bật là rào cản thể chế, mức độ cam kết của chính quyền địa phương và chi phí không chính thức. Theo ông, cần tập trung rà soát, bãi bỏ các quy định còn phân biệt đối xử với doanh nghiệp tư nhân nhằm tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng.
Ở góc nhìn dài hạn hơn, PGS.TS Nguyễn Thường Lạng nhận định Nghị quyết 68 không đơn thuần là một văn bản định hướng mà thực sự là một cuộc"đại phẫu" mang tính chiến lược, mở ra không gian phát triển mới cho khu vực doanh nghiệp.
Trong khi đó, TS. Cấn Văn Lực cho rằng quá trình phát triển của kinh tế tư nhân cần được đặt trên ba nền tảng quan trọng gồm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh những gì pháp luật không cấm và quyền cạnh tranh bình đẳng. Đây là những điều kiện căn bản để doanh nghiệp yên tâm đầu tư lâu dài.
Một trong những điểm được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao là nguyên tắc không hình sự hóa các quan hệ kinh tế, dân sự.
Theo tinh thần Nghị quyết 68, việc xử lý các sai phạm phải phân định rõ trách nhiệm hành chính, dân sự và hình sự; ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế và hành chính trước khi xem xét trách nhiệm hình sự.
Doanh nghiệp được chủ động khắc phục hậu quả, sửa chữa sai phạm. Trong trường hợp quy định pháp luật còn có nhiều cách hiểu khác nhau giữa xử lý hình sự và không xử lý hình sự thì nguyên tắc được đặt ra làkiên quyết không áp dụng biện pháp xử lý hình sự.

Ngay cả trong trường hợp buộc phải xử lý hình sự, việc khắc phục hậu quả kinh tế vẫn được ưu tiên và trở thành căn cứ quan trọng để xem xét các biện pháp xử lý tiếp theo.
Bên cạnh đó là hàng loạt cơ chế bảo đảm an toàn pháp lý như không áp dụng hồi tố các quy định gây bất lợi cho doanh nghiệp; bảo đảm nguyên tắc suy đoán vô tội; sớm kết luận đối với các vụ việc thiếu chứng cứ nhằm tránh ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh; phân biệt tài sản hợp pháp với tài sản có nguồn gốc từ hành vi vi phạm; đồng thời áp dụng các biện pháp phong tỏa, kê biên phù hợp với mức độ thiệt hại để hạn chế tối đa tác động tới doanh nghiệp.
Theo chuyên gia Phạm Chi Lan, đây là một trong những điểm đột phá quan trọng nhất của Nghị quyết 68. Bà đánh giá cao việc Nhà nước dỡ bỏ các rào cản tâm lý đối với doanh nghiệp, giúp họ mạnh dạn hơn khi đầu tư vào các dự án quy mô lớn.
TS.Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng chủ trương không hình sự hóa các quan hệ kinh tế cùng quy định mỗi năm chỉ thanh tra doanh nghiệp một lần sẽ góp phần giải tỏa đáng kể rủi ro pháp lý đối với khu vực doanh nghiệp tư nhân.
Gia tăng số lượng doanh nghiệp chỉ là một nửa của bài toán. Phần còn lại là làm thế nào để doanh nghiệp phát triển bền vững, nâng cao năng suất và đóng góp nhiều hơn cho nền kinh tế.
Trong đó, khu vực hộ kinh doanh được xem là nguồn quan trọng nhất để bổ sung lực lượng doanh nghiệp mới.
Theo định hướng của Nghị quyết 68, việc chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp sẽ dựa trên nguyên tắc khuyến khích thay vì tạo áp lực.
Nhà nước sẽ xây dựng lộ trình thuế phù hợp; đơn giản hóa chế độ kế toán; hỗ trợ hóa đơn điện tử; cung cấp miễn phí nền tảng số và phần mềm kế toán dùng chung; hỗ trợ tư vấn pháp lý, đào tạo quản trị và cung cấp các gói tín dụng nhỏ.
Đặc biệt,hình thức thuế khoán sẽ được xóa bỏ chậm nhất trong năm 2026, đồng thời các chính sách hỗ trợ bảo hiểm xã hội đối với chủ hộ kinh doanh cũng được nghiên cứu nhằm giảm bớt gánh nặng khi chuyển đổi mô hình hoạt động. Song song với việc phát triển doanh nghiệp mới, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được xem là điều kiện tiên quyết.
Bên cạnh việc thúc đẩy doanh nghiệp mới, Nghị quyết 68 còn hướng tới xây dựng một hệ sinh thái phát triển bền vững thông qua sự liên kết giữa doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và khu vực hộ kinh doanh.

Theo ông Phạm Đình Đoàn, Chủ tịch Tập đoàn Phú Thái, doanh nghiệp nhỏ và vừa không thể "tự bơi" nếu muốn tham gia thị trường quốc tế. Vai trò của doanh nghiệp lớn là chia sẻ hạ tầng, kinh nghiệm pháp lý, chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và chuyển giao đơn hàng để hình thành chuỗi giá trị trong nước.
Để khuyến khích vai trò dẫn dắt này, Nghị quyết quy định việc doanh nghiệp lớn chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp nhỏ sẽ trở thành tiêu chí xem xét hưởng các chính sách ưu đãi. Chi phí đào tạo cho doanh nghiệp nhỏ cũng được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế, đồng thời các tổ chức tín dụng được khuyến khích ưu tiên vốn cho doanh nghiệp hoạt động theo chuỗi giá trị.
Ở góc độ môi trường kinh doanh, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký VCCI, cho rằng chưa bao giờ khu vực kinh tế tư nhân có nhiều cơ hội như hiện nay. Theo ông, thay đổi đáng chú ý nhất là tư duy của nhiều địa phương đã chuyển từ việc coi doanh nghiệp là đối tượng quản lý sang lực lượng trung tâm của tăng trưởng. Tuy nhiên, quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp cần được thực hiện bằng cơ chế tạo động lực thay vì gia tăng thủ tục.
Trong khi đó, TS. Tô Hoài Nam và TS. Mạc Quốc Anh cùng cho rằng doanh nghiệp chỉ có thể phát triển khi môi trường kinh doanh minh bạch, chi phí tuân thủ thấp và chính sách đủ ổn định để có thể dự báo. Hai chuyên gia cũng đề xuất đổi mới chính sách tín dụng theo hướng mở rộng khả năng vay vốn dựa trên tài sản hình thành trong tương lai, qua đó giúp khu vực tư nhân tiếp cận nguồn vốn thuận lợi hơn.
Nghị quyết 68 không chỉ hướng tới gia tăng số lượng doanh nghiệp mà còn đặt mục tiêu nâng cao chất lượng khu vực kinh tế tư nhân thông qua cải cách thể chế, giảm chi phí tuân thủ, bảo đảm an toàn pháp lý và hình thành hệ sinh thái liên kết giữa các doanh nghiệp. Khi những rào cản về thể chế được tháo gỡ đồng bộ, mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 sẽ không chỉ là một con số, mà còn là nền tảng để khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế.