Nâng tầm giá trị chè, mở cánh cửa xuất khẩu bền vững

Thiên Trường

Sản xuất chất lượng cao, chế biến sâu và xây dựng thương hiệu là giải pháp cốt lõi giúp chè Việt thoát bẫy nguyên liệu thô để nâng cao giá trị gia tăng toàn cầu.

Vị thế top 5 thế giới và khoảng cách giá trị xuất khẩu

Ngành chè Việt đang đứng trước một bài toán chiến lược mang tính sống còn khi bước vào giai đoạn cạnh tranh toàn cầu khốc liệt dưới áp lực của xu hướng tiêu dùng xanh. Với lợi thế tự nhiên ưu đãi, Việt Nam tự hào duy trì vị trí vững chắc trong nhóm 5 quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất hành tinh.

Với lợi thế tự nhiên ưu đãi, Việt Nam tự hào duy trì vị trí vững chắc trong nhóm 5 quốc gia sản xuất và xuất khẩu chè lớn nhất hành tinh

Những vùng nguyên liệu trà tập trung, giàu bản sắc văn hóa trải dài từ trung du, miền núi phía Bắc cho đến cao nguyên Lâm Đồng từ lâu đã trở thành bệ đỡ kinh tế quan trọng cho hàng triệu hộ nông dân. Dù vậy, một thực tế đáng suy ngẫm vẫn đang tồn tại là giá trị thu về của hạt ngọc xanh này lại chưa hề tương xứng với quy mô sản xuất thực tế.

Số liệu thống kê mới nhất từ Cục Hải quan, Bộ Tài chính chỉ ra rằng, trong năm 2025, tổng khối lượng chè xuất khẩu của cả nước đạt 136.952 tấn, mang về nguồn kim ngạch gần 238 triệu USD. Bước sang quý I năm 2026, thị trường tiếp tục ghi nhận tín hiệu khởi sắc khi xuất khẩu được khoảng 25.699 tấn với giá trị đạt 43 triệu USD. Điểm sáng đáng ghi nhận là mức giá xuất khẩu bình quân đã chạm ngưỡng 1.673 USD mỗi tấn, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Tuy nhiên, nếu đặt trong tương quan so sánh với mặt bằng chung quốc tế, mức giá bình quân của chè Việt vẫn chỉ dao động trong khoảng từ 1.644 đến 1.737 USD mỗi tấn, tức là chỉ tương đương vỏn vẹn 55 đến 65% so với mức giá trung bình của thế giới. Khi đặt cạnh các cường quốc đã định vị thành công phân khúc trà cao cấp như Sri Lanka hay Kenya, khoảng cách về giá trị này càng bộc lộ rõ điểm nghẽn cố hữu là chè Việt vẫn đang cạnh tranh chủ yếu bằng sản lượng thô thay vì hàm lượng giá trị gia tăng.

Sự chênh lệch lớn này cũng chính là dư địa tăng trưởng khổng lồ để ngành chè thực hiện cuộc cách mạng tái cấu trúc mô hình phát triển. Theo ông Hoàng Vĩnh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chè Việt Nam, chè không đơn thuần là một mặt hàng nông sản thương mại thuần túy mà còn là sản phẩm kết tinh sâu sắc bản sắc văn hóa lâu đời của dân tộc. Để chuyển đổi mô hình thành công, việc đầu tư mạnh mẽ vào các chương trình xúc tiến thương mại quốc tế và rà soát tiêu chuẩn kỹ thuật là cực kỳ cấp thiết.

Những hoạt động quảng bá quy mô, tiêu biểu như chương trình giao thương tại sự kiện Ngày Quốc tế Chè ở Nam Ninh, Trung Quốc do Cục Xúc tiến thương mại thuộc Bộ Công Thương kết hợp cùng các cơ quan đại diện tổ chức, đã mở ra cơ hội lớn cho các dòng chè đặc sản nội địa tiếp cận, cập nhật xu hướng tiêu dùng và trực tiếp bắt tay với các chuỗi cung ứng cao cấp toàn cầu.

Công thức chế biến sâu gắn liền với thương hiệu

Lời giải cho bài toán nâng tầm giá trị chè Việt hiện nay không còn nằm ở những lý thuyết vĩ mô, mà đang được hiện thực hóa một cách sống động bởi tư duy chủ động chuyển đổi của các doanh nghiệp tiên phong. Xu hướng dịch chuyển từ xuất khẩu thô sang các dòng sản phẩm hữu cơ, có chứng nhận quốc tế và mang đậm câu chuyện thương hiệu riêng đang tạo ra những lối đi mới đầy triển vọng, đáp ứng trọn vẹn các hàng rào kỹ thuật khắt khe về trách nhiệm xã hội và môi trường của thế giới.

Khách quốc tế thưởng thức văn hóa trà 

Minh chứng rõ nét nhất cho tư duy phát triển dựa trên chất lượng là câu chuyện thành công của Công ty TNHH Đầu tư và Phát triển trà UT. Với hành trình hơn mười lăm năm bám trụ và phát triển vùng nguyên liệu tại Phú Thọ và Lai Châu, doanh nghiệp đã chủ động nâng cao năng lực sản xuất lên mức 3.000 tấn thành phẩm mỗi năm để phục vụ hơn 60 đối tác lớn tại 15 quốc gia.

Bí quyết giúp doanh nghiệp mở khóa các thị trường khó tính chính là việc chuẩn hóa hệ thống quản lý theo các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt như ISO, Halal, FDA và VietGAP, đưa dòng sản phẩm trà búp tím Thanh Ba đạt chứng nhận OCOP 5 sao cấp quốc gia vươn tầm thế giới.

Ở một góc nhìn khác, Công ty Cổ phần Trà Rồng Vàng lại lựa chọn bảo tồn và phát triển các giá trị truyền thống từ thủ phủ trà Bảo Lộc, Lâm Đồng. Thành lập từ năm 1976, doanh nghiệp này đã kết hợp nhuần nhuyễn kỹ thuật canh tác bản địa với công nghệ hiện đại để chế biến sâu các dòng trà Oolong, trà đen, trà xanh và matcha, tạo nên một bản sắc thương hiệu không thể trộn lẫn trên thị trường quốc tế.

Sự linh hoạt trong chiến lược tiếp cận thị trường còn được thể hiện qua mô hình của Công ty TNHH Một thành viên Thương mại Thái Hưng, khi đơn vị này tập trung khai thác phân khúc tiêu dùng hiện đại với các sản phẩm trà sữa, matcha và trà pha chế tiện lợi. Các cuộc khảo sát thị trường chuyên sâu tại Nhật Bản và Trung Quốc khẳng định, nhu cầu thế giới đối với các sản phẩm trà cao cấp có nguồn gốc hữu cơ và câu chuyện văn hóa rõ ràng đang tăng trưởng không ngừng.

Việc bốn dòng sản phẩm tinh hoa gồm Hoàng trà, Hồng trà, Bạch trà và Diệp trà của Việt Nam nhận được sự tán thưởng lớn từ các đối tác tại Nam Ninh, Quảng Châu và vùng hoa nhài Hàng Châu là minh chứng đanh thép cho thấy hướng đi này hoàn toàn đúng đắn. Khi toàn ngành chè đồng lòng chuyển dịch từ tư duy bán những gì mình có sang chế biến sâu những sản phẩm thị trường cần, vị thế và giá trị của thương hiệu chè Việt Nam chắc chắn sẽ được khẳng định vững chắc trên bản đồ thương mại quốc tế.

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm hút lớn nhất của dòng vốn FDI năm 2025 

Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo là điểm hút lớn nhất của dòng vốn FDI năm 2025 

Năm 2025, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động và cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng gay gắt, Việt Nam vẫn duy trì được dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở mức cao
Phú Thọ thực hiện tái cơ cấu ngành chè theo hướng hữu cơ

Phú Thọ thực hiện tái cơ cấu ngành chè theo hướng hữu cơ

Toàn tỉnh hiện có hơn 16.000 ha chè được quy hoạch vùng trồng tập trung ở 9/13 huyện, thị trong tỉnh là Thanh Sơn, Tân Sơn, Cẩm Khê, Yên Lập, Thanh Ba, Hạ Hoà, Đoan Hùng, Phù Ninh, Tx. Phú Thọ. Năng suất chè đến nay đạt 118 tạ/ha; sản lượng đạt hơn 185 nghìn tấn/năm, đứng thứ 4 về diện tích và thứ 3 về sản lượng chè toàn quốc.
Kết nối tiêu thụ nông sản theo chuỗi liên kết bền vững

Kết nối tiêu thụ nông sản theo chuỗi liên kết bền vững

Các cấp hội nông dân Nghệ An đẩy mạnh kết nối cung - cầu, hỗ trợ tiêu thụ nông sản, OCOP, từng bước hình thành chuỗi liên kết bền vững, nâng cao thu nhập cho nông dân.
Chữ tín trên bàn ăn và vị thế nông sản Việt

Chữ tín trên bàn ăn và vị thế nông sản Việt

Ngành nông nghiệp đang thiết lập một kỷ cương mới, nơi chất lượng không chỉ là tiêu chuẩn mà còn là lời cam kết sinh mệnh với người tiêu dùng.