hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 hướng tới đồng bộ dữ liệu, nâng hiệu quả kinh tế rừng, bảo đảm sinh kế người dân và bảo vệ hệ sinh thái. Đây là nền tảng để ngành lâm nghiệp phát triển hiện đại, bền vững và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Ngày 16/9/2026, Hội đồng thẩm định đã họp xem xét điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 theo Đề cương được phê duyệt tại Quyết định số 823/QĐ-TTg ngày 11/5/2026. Tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng yêu cầu rà soát toàn diện để bảo đảm Quy hoạch lâm nghiệp thống nhất với Quy hoạch sử dụng đất quốc gia và các quy hoạch liên quan, đồng thời dự báo sát hơn những yếu tố có thể tác động tới ngành trong giai đoạn tới.
Kết quả thực hiện quy hoạch giai đoạn 2021-2025 cho thấy nhiều chỉ tiêu lâm nghiệp đã đạt và vượt kế hoạch. Đến năm 2025, cả nước có 14,918 triệu ha rừng, trong đó rừng tự nhiên 10,024 triệu ha và rừng trồng 4,984 triệu ha. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 42,03%, trong khi diện tích rừng đặc dụng, phòng hộ và rừng tự nhiên cơ bản được giữ ổn định.

Năng lực phát triển rừng sản xuất cũng có những kết quả đáng chú ý. Diện tích rừng trồng gỗ lớn đạt khoảng 1,32 triệu ha; bình quân khai thác đạt 264.000 ha/năm, tương đương 117% kế hoạch. Tổng thể tích gỗ khai thác đạt 164 triệu m³, bình quân 32,8 triệu m³/năm, đáp ứng khoảng 80% nhu cầu nguyên liệu gỗ cho ngành chế biến lâm sản.
Nguồn thu từ dịch vụ môi trường rừng bình quân đạt 3.740 tỷ đồng/năm, vượt 7% kế hoạch. Diện tích rừng có chứng chỉ quản lý rừng bền vững đạt 730.000 ha, tương đương 146% kế hoạch. Những kết quả này cho thấy lâm nghiệp đang từng bước chuyển từ yêu cầu bảo vệ tài nguyên đơn thuần sang kết hợp bảo vệ rừng với tạo giá trị kinh tế từ rừng.
Tuy nhiên, bức tranh vẫn còn những khoảng trống cần được xử lý trong quá trình điều chỉnh quy hoạch. Tổng diện tích quy hoạch đất lâm nghiệp đến năm 2025 đạt 15,585 triệu ha, thấp hơn mức 15,848 triệu ha theo quy hoạch được phê duyệt đến năm 2030. Tốc độ tăng giá trị sản xuất lâm nghiệp bình quân đạt 4,85%/năm, thấp hơn mục tiêu 5-5,5%/năm. Giá trị xuất khẩu lâm sản năm 2025 đạt 18,33 tỷ USD, bằng 91,65% mục tiêu 20 tỷ USD.
Những hạn chế này đi cùng các vấn đề trong tổ chức quản lý. Số liệu giữa quy hoạch lâm nghiệp, quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch của các địa phương, vùng chưa đồng bộ. Chênh lệch giữa diện tích rừng thực tế với số liệu trên hồ sơ quản lý gây khó khăn cho việc xác định không gian phát triển và tổ chức thực hiện.
Trong khi đó, tình trạng chặt phá, lấn chiếm và khai thác rừng trái phép vẫn xảy ra tại một số địa phương. Nguồn lực dành cho bảo vệ và phát triển rừng còn hạn chế, hạ tầng phục vụ phòng cháy, chữa cháy rừng chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu. Việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và kết nối cơ sở dữ liệu lâm nghiệp với các lĩnh vực khác cũng còn khoảng trống.
Vì vậy, yêu cầu thống nhất dữ liệu là điều kiện để các chỉ tiêu về diện tích rừng, đất lâm nghiệp, phát triển sản xuất và sử dụng đất có thể được triển khai nhất quán, hạn chế chồng chéo và tạo cơ sở cho quản lý tài nguyên hiệu quả hơn.
Một điểm được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh là quy hoạch phải gắn phát triển lâm nghiệp với sinh kế của người dân khu vực có rừng. Theo định hướng này, phát triển lâm nghiệp cần đồng thời đáp ứng ba yêu cầu về kinh tế, xã hội và môi trường; trong đó đời sống của người dân giữ rừng phải được cải thiện cùng với yêu cầu bảo vệ tài nguyên.
Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp đối với tính bền vững của quy hoạch. Rừng được bảo vệ lâu dài cần gắn với lợi ích kinh tế và sinh kế của cộng đồng, người dân tham gia giữ rừng. Vì vậy, không gian phát triển lâm nghiệp cần được tính toán cùng các hoạt động tạo giá trị như chế biến, du lịch sinh thái và dịch vụ môi trường rừng.

Kết quả giai đoạn 2021-2025 cho thấy dịch vụ môi trường rừng đã tạo nguồn thu bình quân 3.740 tỷ đồng/năm. Diện tích rừng có chứng chỉ quản lý bền vững đạt 730.000 ha. Đây là những nền tảng để mở rộng các mô hình quản lý rừng theo hướng bền vững, gắn trách nhiệm bảo vệ rừng với lợi ích kinh tế.
Trong điều chỉnh quy hoạch, mục tiêu đến năm 2030 là duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 42%, nâng cao chất lượng rừng; tốc độ tăng GDP ngành lâm nghiệp đạt 4,8-5,5%/năm; giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 20-21 tỷ USD và tiêu thụ trong nước đạt 6-8 tỷ USD. Cùng với đó, diện tích rừng được cấp chứng chỉ quản lý bền vững hướng tới 1,23 triệu ha và 100% diện tích rừng của các chủ rừng là tổ chức được quản lý theo phương án bền vững.
Để đạt các mục tiêu này, quy hoạch cần gắn với danh mục dự án ưu tiên và nguồn lực thực hiện, gồm ngân sách Trung ương, địa phương và nguồn vốn xã hội hóa. Đây là yêu cầu nhằm tránh tình trạng quy hoạch đặt ra nhiều mục tiêu nhưng thiếu nguồn lực để triển khai.
Một nội dung khác được đặt ra là dự báo sát những yếu tố có thể tác động đến ngành trong tương lai, gồm biến đổi khí hậu, thị trường lâm sản, thị trường carbon, gia tăng dân số, di dân và phát triển khoa học - công nghệ. Việc đưa các yếu tố này vào quy hoạch nhằm tạo dư địa điều chỉnh chính sách và tổ chức sản xuất trước những biến động mới.
Phó Thủ tướng cũng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách để xử lý những vướng mắc phát sinh trong thực tế, từ chênh lệch diện tích rừng trên hồ sơ và thực địa đến phân cấp, phân quyền khi chuyển mục đích sử dụng rừng; đồng thời xử lý tình trạng vi phạm, lấn chiếm và khai thác rừng trái phép.
Về dài hạn, định hướng đến năm 2050 là xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Muốn vậy, quy hoạch cần vượt khỏi cách tiếp cận chỉ quản lý diện tích rừng, chuyển sang quản trị tổng thể tài nguyên, dữ liệu, thị trường và sinh kế.
Với tỷ lệ che phủ rừng đã đạt 42,03% vào năm 2025, thách thức của giai đoạn tới nằm ở việc giữ vững diện tích, nâng chất lượng rừng và gia tăng giá trị kinh tế trên nền tảng bảo vệ hệ sinh thái. Điều chỉnh Quy hoạch lâm nghiệp vì vậy phải trở thành công cụ kết nối giữa mục tiêu phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống người dân tại các khu vực có rừng.