hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị nông sản Việt Nam.
Tuy nhiên, sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, sản xuất manh mún và hạn chế trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu vẫn là những điểm nghẽn cần tháo gỡ để ngành nông nghiệp chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên công nghệ cao và giá trị gia tăng.
Tại Hội nghị “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thúc đẩy tăng trưởng ngành Nông nghiệp và Môi trường” khu vực miền Bắc ngày 27/10, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Bộ Công an tập trung thúc đẩy ứng dụng khoa học công nghệ vào phát triển ngành.
Thực tế cho thấy, khoa học công nghệ ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nâng cao hiệu quả sản xuất, kiểm soát chất lượng và gia tăng giá trị nông, lâm, thủy sản. Năm 2025, toàn ngành đạt tốc độ tăng trưởng 3,78%, kim ngạch xuất khẩu đạt 70,63 tỷ USD. Trong 9 tháng đầu năm 2026, tăng trưởng ngành đạt 4,02%, kim ngạch xuất khẩu đạt 56,3 tỷ USD.

Trong lĩnh vực trồng trọt, việc ứng dụng giống lúa mới và quy trình canh tác tiên tiến giúp năng suất tăng khoảng 9,9%, sản lượng tăng ước 2,4 triệu tấn mỗi năm, tương đương giá trị gia tăng khoảng 12.000 tỷ đồng mỗi năm. Cùng với đó, 381 tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đã được công bố, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý giống, vật tư, an toàn thực phẩm và kiểm dịch.
Ở lĩnh vực chăn nuôi, cả nước có 365 nhà máy chế biến, sản xuất với tổng công suất thiết kế trên 31 triệu tấn mỗi năm. Hệ thống sản xuất thuốc thú y có 92 cơ sở đạt tiêu chuẩn GMP-WHO, trong đó 12 cơ sở chuyên sản xuất vaccine. Năng lực nghiên cứu và sản xuất vaccine trong nước góp phần nâng cao khả năng chủ động phòng, chống dịch bệnh, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường xuất khẩu.
Trong lâm nghiệp, ngành đã công nhận thêm 102 giống cây mới, nâng tổng số giống được công nhận lên 346 giống, cùng 47 tiến bộ kỹ thuật. Cả nước có hơn 3.200 cơ sở sản xuất, kinh doanh giống lâm nghiệp; khoảng 90% diện tích trồng rừng tập trung được kiểm soát chất lượng giống.
Thủy sản và công nghiệp chế biến cũng ghi nhận những chuyển biến đáng chú ý. Sản lượng nuôi trồng thủy sản tăng từ 4,89 triệu tấn năm 2021 lên 6,11 triệu tấn năm 2025, chiếm 61,4% tổng sản lượng thủy sản. Trong khi đó, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản duy trì tốc độ tăng giá trị gia tăng 7,5–8% mỗi năm. Tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao tăng từ khoảng 20% năm 2020 lên trên 30% năm 2025.
Những kết quả này cho thấy ứng dụng công nghệ có thể tạo ra giá trị kinh tế cụ thể, từ tăng năng suất cây trồng, nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh đến cải thiện chất lượng nguyên liệu và gia tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu.
Dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp vẫn gặp những hạn chế về cơ chế, nguồn lực và tổ chức sản xuất. Cơ chế khuyến khích nghiên cứu, chuyển giao và thương mại hóa công nghệ chưa đủ mạnh; nguồn lực đầu tư còn phân tán, trong khi hợp tác giữa cơ quan nghiên cứu và doanh nghiệp chưa phát huy hết hiệu quả.
Bài toán nguyên liệu đầu vào cũng tạo áp lực đáng kể lên chi phí sản xuất. Chi phí thức ăn chăn nuôi chiếm 60–70% giá thành, nhưng nguyên liệu thô trong nước mới đáp ứng 30–35% nhu cầu. Lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu đạt 24,78 triệu tấn, trị giá 8,22 tỷ USD. Mức độ phụ thuộc này khiến hoạt động sản xuất dễ chịu tác động khi giá cả và nguồn cung quốc tế biến động.
Bên cạnh đó, sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào các hộ nhỏ, phân tán. Liên kết giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và thị trường chưa bền vững, gây khó khăn cho việc triển khai đồng bộ công nghệ và tổ chức sản xuất theo quy mô lớn. Hạ tầng bảo quản, kho lạnh, logistics và chế biến sâu chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu; nhiều nguồn phụ phẩm nông nghiệp chưa được khai thác hiệu quả để tạo thêm giá trị.

Trong giai đoạn 2027–2030, định hướng phát triển đặt trọng tâm vào chuyển đổi mô hình tăng trưởng, từ dựa chủ yếu vào quy mô và sản lượng sang nâng cao năng suất, chất lượng, ứng dụng công nghệ cao, chế biến sâu và gia tăng giá trị. Để thực hiện mục tiêu này, hoạt động nghiên cứu cần gắn với bài toán cụ thể của từng ngành hàng, chuỗi giá trị và địa phương, thay vì triển khai các đề tài riêng lẻ thiếu đầu ra rõ ràng.
Mỗi nhiệm vụ khoa học công nghệ cần xác định cụ thể sản phẩm nghiên cứu, doanh nghiệp tiếp nhận, địa bàn triển khai và hiệu quả kinh tế – xã hội. Cơ chế đặt hàng, tuyển chọn, tài trợ và đồng tài trợ cần khuyến khích doanh nghiệp tham gia từ khâu xác định nhu cầu, thử nghiệm đến tiếp nhận và thương mại hóa công nghệ. Hiệu quả nghiên cứu cần được đo bằng mức tăng năng suất, giá trị gia tăng, khả năng giảm chi phí, tổn thất sau thu hoạch và phát thải, cùng khả năng nhân rộng trong thực tế.
Chuyển đổi số cũng cần được triển khai đồng bộ thông qua hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành theo hướng chuẩn hóa, kết nối và liên thông. Các dữ liệu về đất đai, giống, vùng trồng, vùng nuôi, rừng, dịch bệnh, sản lượng, chất lượng và truy xuất nguồn gốc cần được ưu tiên số hóa. Đây là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý, hỗ trợ doanh nghiệp và người sản xuất đưa ra quyết định phù hợp, đồng thời tăng khả năng kiểm soát chất lượng nông sản.
Cùng với đó, phát triển vùng nguyên liệu gắn với chế biến, tận dụng phụ phẩm và xây dựng chuỗi giá trị theo lợi thế từng vùng sẽ góp phần giảm chi phí đầu vào, hạn chế tổn thất và nâng cao giá trị sản phẩm.
Để khoa học công nghệ thực sự trở thành động lực tăng trưởng, yêu cầu đặt ra là gắn nghiên cứu với nhu cầu thị trường, lấy doanh nghiệp làm cầu nối thương mại hóa và đo lường kết quả bằng hiệu quả sản xuất cụ thể. Khi những điểm nghẽn về cơ chế, nguyên liệu, liên kết sản xuất và dữ liệu được giải quyết đồng bộ, ngành nông nghiệp sẽ có thêm nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển theo hướng bền vững.