hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao và đến năm 2045, phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Để thực hiện được mục tiêu, khát vọng này, chìa khóa chính là quan tâm, nâng cao chính sách đào tạo, hỗ trợ, phát triển nguồn nhân
Từ năm 2019 đến nay, nước ta chứng kiến nhiều biến động lớn về thị trường lao động. Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, thị trường lao động ngừng trệ, nhiều người mất việc phải hoặc phải chuyển đổi việc làm từ khu vực chính thức sang phi chính thức.
Đến năm 2022, khi nền kinh tế phục hồi thị trường lao động cũng có những chuyển biến đáng ghi nhận. Tuy nhiên, từ năm nay, xu hướng cải cách hành chính, tinh gọn bộ máy đang diễn ra sâu rộng trên cả nước, việc sáp nhập các đơn vị hành chính và cơ quan nhà nước đã đặt ra nhiều thay đổi lớn đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Không ít người trong số đó buộc phải nghỉ việc, chuyển đổi vị trí, hoặc bước vào thị trường lao động mới với nhiều thách thức.
Theo thống kê, số người bị ảnh hưởng do sắp xếp, tinh giản là khoảng 200.000 người. Điều đó cho thấy, nhu cầu về an sinh xã hội của người lao động trong giai đoạn hiện nay là rất cấp bách.
Thực tế là vậy song nhìn vào thị trường lao động đang đối mặt với bài toán khó là nghịch lý giữa nhu cầu tuyển dụng và nguồn nhân lực đang thất nghiệp. Trên thực tế, trong khi một số lao động vẫn thất nghiệp thì trong doanh nghiệp lại có nhiều vị trí việc làm bị bỏ trống do không tìm được người phù hợp về kỹ năng, độ tuổi, tay nghề…
Mặt khác, nhiều lao động thất nghiệp đã ở tuổi ngoài 35 nên rất khó xin việc, vì sức khỏe không đảm bảo, kỹ năng làm việc hạn chế… là nguyên nhân khiến nhiều lao động không xin được việc, trong khi doanh nghiệp vẫn “khát” lao động.
Thời gian gần đây, chúng ta đã nói nhiều về chuẩn bị nguồn nhân lực cho Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 nhưng vẫn còn khoảng cách lớn từ nhận thức đến việc thực hiện.
Trong báo cáo kết quả nghiên cứu của Viện Phát triển doanh nghiệp (thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam) và Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng Ánh Sáng (LIGHT) khảo sát về thực trạng tham gia của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội tại Việt Nam trong nâng cao năng lực cho người lao động phục vụ công nghiệp 4.0, được thực hiện gần đây trên hơn 400 doanh nghiệp sản xuất, phi sản xuất ở mọi loại hình và hơn 20 đại diện tổ chức xã hội trên cả nước cho thấy những minh chứng về nhận định này.
Báo cáo của Viện này cho thấy, có tới 80% doanh nghiệp chủ động đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực lao động. Nhưng chủ yếu là đào tạo nâng cao (65,1%) hay đào tạo cho lao động chưa có kỹ năng (57,6%) mà ít đào tạo kỹ năng mới (46,1%), nhất là kỹ năng chuyên biệt cho công nghiệp 4.0 (17,6%).
Chưa kể, người lao động trong doanh nghiệp áp dụng kỹ năng mềm tốt hơn kỹ năng kỹ thuật, đặc biệt kỹ năng kỹ thuật về 4.0 doanh nghiệp chưa đáp ứng được. Vẫn còn khoảng cách xa về kỳ vọng của doanh nghiệp với sự đáp ứng của người lao động.
Dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) dự kiến sẽ được Quốc hội thông qua trong Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV. Trong bối cảnh thị trường lao động chịu sự tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, tình hình kinh tế của Việt Nam và thế giới… thì việc điều chỉnh các quy định trong Dự thảo Luật Việc làm (sửa đổi) được quan tâm hơn bao giờ hết.
Theo cơ quan soạn thảo Luật Việc làm (sửa đổi), hiện nay Luật Việc làm chưa có quy định liên quan về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ dịch vụ việc làm đối với đội ngũ nhân viên trực tiếp thực hiện tư vấn, giới thiệu việc làm cũng như tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, số lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ làm công tác tư vấn, giới thiệu việc làm trong các tổ chức dịch vụ việc làm, chưa bao phủ hết các hoạt động theo Công ước số 88.
Cụ thể, Điều 9 Công ước số 88 của Tổ chức lao động quốc tế về dịch vụ việc làm mà Việt Nam đã tham gia đã có quy định: “Các viên chức của cơ quan dịch vụ việc làm phải đào tạo thích hợp để thực hiện nhiệm vụ của mình”.
Theo đó, vai trò của người trực tiếp tiếp xúc, cung ứng dịch vụ việc làm cho các tổ chức, cá nhân rất quan trọng, góp phần quyết định đến việc ra quyết định về nghề nghiệp tương lai, lựa chọn việc làm của người lao động, lựa chọn nhân sự phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị.
Tuy nhiên, thời gian qua chất lượng hoạt động dịch vụ việc làm theo đánh giá từ phía các nhà chuyên môn chưa chuyên nghiệp, hiệu quả kết nối cung cầu lao động còn hạn chế, một trong những nguyên nhân đó là nhân sự chưa được đào tạo những kỹ năng nghiệp vụ dịch vụ việc làm, các dữ liệu, thông tin về thị trường lao động thiếu cập nhật.
Để khắc phục bất cập trên, việc nâng cao kết nối cung - cầu lao động, thu hút các tổ chức, cá nhân đến với hệ thống dịch vụ việc làm ngày càng nhiều cần phải được thực hiện một cách có hiệu quả. Vì vậy, cần đưa ra mục tiêu tất cả những người trực tiếp thực hiện cung ứng dịch vụ công cho các tổ chức, cá nhân tại Trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp dịch vụ việc làm phải tham gia khóa đào tạo. Đến năm 2030, 60% số lao động được tư vấn, giới thiệu việc làm có việc làm.
Theo các chuyên gia, để lượng hóa được mục tiêu trên thì trong Luật Việc làm (sửa đổi) cần bổ sung quy định người trực tiếp thực hiện các hoạt động tư vấn; giới thiệu việc làm; cung ứng và kết nối người lao động theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân tại các Trung tâm dịch vụ việc làm, doanh nghiệp hoạt động dịch vụ việc làm phải tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, nghiệp vụ chuyên môn về dịch vụ việc làm (Điều 48).
Theo đó, với quy định này được bổ sung thì phía cơ quan quản lý Nhà nước sẽ xây dựng chương trình đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức thi và cấp chứng chỉ cho cá nhân. Từ đó, giúp công tác tư vấn, giới thiệu việc làm được nâng lên, góp phần sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực quốc gia, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Còn đối với tổ chức dịch vụ việc làm thì nhân viên tư vấn, giới thiệu việc làm của doanh nghiệp dịch vụ việc làm phải tham gia khóa đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện, cập nhật về dịch vụ việc làm.
Đối với người sử dụng lao động sẽ tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh vì có được nhân sự đáp ứng nhu cầu, tiết kiệm thời gian tìm kiếm lao động. Trong khi, đối với người lao động sẽ có nguồn thu nhập tốt hơn vì có được việc làm đáp ứng.
Bên cạnh đó, tác động xã hội đối với việc bổ sung quy định về đào tạo, nghiệp vụ chuyên môn về dịch vụ việc làm sẽ giúp hình thành đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, bảo đảm thực thi được đầy đủ chính sách, chế độ của nhà nước đối với các tổ chức, cá nhân. Đặc biệt, tăng hiệu quả kết nối cung – cầu lao động, giúp hạn chế tỷ lệ thất nghiệp, làm việc trái ngành, nghề đào tạo.
Trong khi, đối với tổ chức dịch vụ việc làm sẽ chuyên nghiệp hóa hoạt động dịch vụ việc làm, trở thành điểm tin cậy của người lao động, doanh nghiệp. Còn với người sử dụng lao động sẽ tin tưởng, sử dụng dịch vụ của tổ chức dịch vụ việc làm, có nhân lực tốt đem lại hiệu quả xã hội.
Với người lao động sẽ tin tưởng, sử dụng dịch vụ của tổ chức dịch vụ việc làm, tối ưu hóa trong việc lựa chọn việc làm phù hợp năng lực, sở thích bản thân.