Thứ hai, 14/09/2026 10:43 (GMT+7)

Hạt tiêu Việt Nam tăng tốc xuất khẩu nhưng áp lực giữ thị phần gia tăng

Phúc Minh

 Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam đạt 1,25 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026, tăng 10,4% về trị giá, trong khi sản lượng tăng tới 15,3% và giá xuất khẩu bình quân giảm 4,3%.

Hoa Kỳ trở thành trụ cột, thị trường mới mở rộng nhanh

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 191,53 nghìn tấn hạt tiêu, thu về 1,25 tỷ USD, tăng lần lượt 15,3% về lượng và 10,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy sức tiêu thụ của hạt tiêu Việt Nam trên thị trường quốc tế vẫn được duy trì, với Hoa Kỳ tiếp tục giữ vị trí thị trường lớn nhất và nhiều thị trường ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao.

Tuy nhiên, phía sau mức tăng kim ngạch là một chuyển động đáng chú ý về giá. Giá xuất khẩu bình quân trong 8 tháng đạt 6.510 USD/tấn, giảm 4,3% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, phần tăng trưởng về trị giá hiện phụ thuộc nhiều vào lượng hàng xuất khẩu, trong khi dư địa cải thiện giá bán vẫn là vấn đề cần được doanh nghiệp quan tâm.

Trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 191,53 nghìn tấn hạt tiêu, thu về 1,25 tỷ USD, tăng lần lượt 15,3% về lượng và 10,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025

Diễn biến đầu tháng 9 cho thấy thị trường hạt tiêu thế giới đang phân hóa. Giá tiêu tại Indonesia tăng, Brazil giảm, còn Malaysia tương đối ổn định. Giá xuất khẩu của Việt Nam cơ bản giữ nhịp ổn định, trong đó tiêu đen loại 500 g/l tăng 20 USD/tấn lên 5.990 USD/tấn, tiêu đen 550 g/l duy trì 6.050 USD/tấn và tiêu trắng giữ mức 8.400 USD/tấn.

Ở thị trường trong nước, giá hạt tiêu ngày 10/9/2026 tăng 1.000-2.000 đồng/kg so với tháng trước, dao động 137.000-141.000 đồng/kg. Đắk Nông và Đắk Lắk có mức giá cao nhất, lần lượt đạt 141.000 đồng/kg và 140.000 đồng/kg. Nguồn cung sau vụ thu hoạch giảm áp lực, trong khi nhu cầu mua từ các doanh nghiệp xuất khẩu tích cực hơn đã hỗ trợ mặt bằng giá.

Trong bức tranh xuất khẩu 8 tháng, Hoa Kỳ tiếp tục giữ vai trò nổi bật khi nhập khẩu 46,13 nghìn tấn hạt tiêu Việt Nam, chiếm 24,09% tổng lượng xuất khẩu của cả nước, tăng 24,1% về lượng và 19,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng này tăng từ 22,39% của cùng kỳ năm trước, cho thấy thị trường Hoa Kỳ đang chiếm vị trí ngày càng lớn trong cơ cấu xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam.

Tốc độ tăng của Hoa Kỳ cũng cao hơn mức tăng chung của ngành về lượng, khi xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam trong 8 tháng tăng 15,3%. Trong bối cảnh lượng xuất khẩu sang một số thị trường truyền thống giảm mạnh, sức mua tại Hoa Kỳ đang tạo lực đỡ quan trọng cho tăng trưởng chung.

Cùng với Hoa Kỳ, nhiều thị trường có tốc độ tăng trưởng đáng chú ý, trong đó lượng hạt tiêu xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ tăng 101,6%, Thái Lan tăng 68,8%, Hà Lan tăng 31,1%, Ai Cập tăng 24,6% và Phi-lip-pin tăng 18,9%. Sự phân hóa giữa các thị trường cho thấy doanh nghiệp đang có thêm lựa chọn trong việc phân bổ hàng hóa và tìm kiếm dư địa tăng trưởng.

Diễn biến tại Hoa Kỳ đặc biệt đáng chú ý khi thị trường này tiếp tục duy trì mức tăng tích cực cả về lượng và trị giá, trong khi UAE, Ấn Độ, Anh và Đức lần lượt giảm 29,8%, 22,5%, 18% và 14,4% về lượng. Cơ cấu thị trường vì vậy đang có sự dịch chuyển, với nhóm thị trường tăng trưởng nhanh ngày càng đóng vai trò lớn hơn trong tổng xuất khẩu.

Thổ Nhĩ Kỳ là trường hợp tiêu biểu cho khả năng mở rộng thị trường nhưng cũng phản ánh rõ sức ép cạnh tranh. Trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 3,31 nghìn tấn hạt tiêu sang thị trường này, tăng 13,9% về lượng, qua đó tiếp tục giữ vị trí nhà cung cấp lớn nhất. Tuy nhiên, thị phần của Việt Nam giảm từ 71,17% xuống 62,16% về lượng và từ 69,6% xuống 48,8% về trị giá.

Nguyên nhân chính đến từ tốc độ gia tăng nguồn cung của các đối thủ. Lượng tiêu Brazil xuất khẩu sang Thổ Nhĩ Kỳ tăng 90%, trong khi trị giá tăng 237,1%, giúp thị phần của Brazil tăng từ 20,26% lên 29,53% về lượng và từ 20% lên 41,5% về trị giá. Madagascar cũng tăng lượng xuất khẩu sang thị trường này 270,2%, nâng thị phần từ 2,56% lên 7,27%, trong khi nguồn cung từ Ấn Độ cũng tăng mạnh.

Diễn biến này cho thấy tăng lượng xuất khẩu chưa bảo đảm duy trì thị phần khi tổng nhu cầu nhập khẩu của một thị trường tăng nhanh hơn tốc độ cung ứng từ Việt Nam. Với Thổ Nhĩ Kỳ, tổng lượng nhập khẩu hạt tiêu trong 7 tháng đầu năm tăng 30,4%, cao hơn mức tăng 13,9% của Việt Nam, tạo khoảng trống để các nhà cung cấp khác gia tăng hiện diện.

Giá trị sản phẩm hạt tiêu quyết định dư địa tăng trưởng

Số liệu xuất khẩu 8 tháng đầu năm cho thấy hạt tiêu Việt Nam vẫn có sức cạnh tranh tốt về nguồn cung, đồng thời đang mở rộng được thị trường tại nhiều khu vực. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân giảm 4,3% trong khi sản lượng tăng 15,3% cho thấy tăng trưởng hiện vẫn dựa nhiều vào khối lượng hàng hóa.

Đây là vấn đề cần được nhìn nhận trong bối cảnh giá hạt tiêu thế giới biến động theo từng quốc gia. Khi Brazil tăng nguồn cung và tạo sức ép cạnh tranh tại các thị trường nhập khẩu, lợi thế về sản lượng của Việt Nam cần được bổ trợ bằng chất lượng, chủng loại, khả năng chế biến và năng lực đáp ứng yêu cầu của từng thị trường.

Mức giá của các dòng sản phẩm chất lượng cao cho thấy dư địa nâng giá trị vẫn hiện hữu. Đầu tháng 9, tiêu đen 500 g/l của Việt Nam đạt 5.990 USD/tấn, tiêu đen 550 g/l đạt 6.050 USD/tấn và tiêu trắng đạt 8.400 USD/tấn. Chênh lệch về giá giữa các chủng loại cho thấy chất lượng và cơ cấu sản phẩm có ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị xuất khẩu.

Đối với doanh nghiệp, việc phát triển các dòng sản phẩm chế biến sâu và đa dạng hóa chủng loại có thể tạo thêm giá trị trên cùng một lượng nguyên liệu, đồng thời giúp giảm mức độ phụ thuộc vào cạnh tranh bằng giá. Các tiêu chuẩn sản xuất bền vững, khả năng truy xuất nguồn gốc và yêu cầu về chất lượng cũng cần được đưa vào chuỗi sản xuất và xuất khẩu để củng cố vị thế tại những thị trường có yêu cầu cao.

Hoa Kỳ đang là thị trường trụ cột với gần một phần tư lượng hạt tiêu xuất khẩu của Việt Nam, trong khi Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Hà Lan, Ai Cập và Phi-lip-pin mở ra thêm những hướng tăng trưởng mới. Việc duy trì đà tăng tại các thị trường này sẽ giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro và tạo thêm dư địa tiêu thụ, nhưng cạnh tranh từ Brazil và các nhà cung cấp mới cho thấy thị phần luôn có khả năng dịch chuyển.

Số liệu 8 tháng đầu năm cho thấy ngành hạt tiêu Việt Nam cần duy trì năng lực cung ứng, đồng thời nâng giá trị trên mỗi tấn hàng xuất khẩu thông qua cải thiện chất lượng, đẩy mạnh chế biến sâu, đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường và xây dựng quan hệ ổn định với nhà nhập khẩu. Giá xuất khẩu bình quân giảm 4,3% cho thấy dư địa tăng trưởng của ngành đang nằm ở khả năng nâng giá trị sản phẩm.

Xuất khẩu đạt 1,25 tỷ USD sau 8 tháng là kết quả tích cực, song mức tăng kim ngạch chủ yếu đến từ sản lượng tăng 15,3% trong khi giá bình quân giảm 4,3%. Doanh nghiệp cần chuyển trọng tâm sang nâng chất lượng và giá trị sản phẩm để củng cố vị thế tại các thị trường lớn, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh trước sự gia tăng nguồn cung từ Brazil và các nhà cung cấp mới.

Giá hạt tiêu biến động trái chiều, xuất khẩu Việt Nam giữ đà giá trị

Giá hạt tiêu biến động trái chiều, xuất khẩu Việt Nam giữ đà giá trị

Bước sang trung tuần tháng 01/2026, thị trường hạt tiêu toàn cầu ghi nhận những chuyển động trái chiều giữa các khu vực sản xuất chủ chốt.
Thị trường hạt tiêu thế giới và vị thế của Việt Nam trong dòng chảy thương mại toàn cầu

Thị trường hạt tiêu thế giới và vị thế của Việt Nam trong dòng chảy thương mại toàn cầu

Thị trường hạt tiêu thế giới bước vào giai đoạn cuối năm 2025 với xu hướng tăng giá rõ rệt do sản lượng toàn cầu thấp hơn dự kiến, nhu cầu của các thị trường lớn duy trì ở mức ổn định và kỳ vọng phục hồi trong năm 2026 khi sản lượng có thể lên tới hơn nửa triệu tấn.
Thị trường hạt tiêu nội địa và triển vọng xuất khẩu sang Ấn Độ

Thị trường hạt tiêu nội địa và triển vọng xuất khẩu sang Ấn Độ

Nửa đầu tháng 10/2025, thị trường hạt tiêu toàn cầu ghi nhận nhịp giảm giá rõ rệt tại hầu hết các khu vực sản xuất chính, phản ánh sự dịch chuyển của cung – cầu trong bối cảnh nhiều yếu tố rủi ro cùng hội tụ. 
Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam ghi nhận mức kỷ lục 6.548 USD/tấn

Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam ghi nhận mức kỷ lục 6.548 USD/tấn

Tháng 10/2024, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tăng cả về lượng và trị giá so với tháng trước. Giá bình quân xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam ghi nhận mức kỷ lục 6.548 USD/tấn.  
Quý III/2024, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tăng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái

Quý III/2024, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam tăng cả về lượng và trị giá so với cùng kỳ năm ngoái

Trong 9 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu hạt tiêu của Việt Nam sang hầu hết các châu lục tăng mạnh (nhờ giá tăng) so với cùng kỳ năm ngoái, ngoại trừ châu Đại Dương.