hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Hải Phòng đang thúc đẩy số hóa sản xuất và logistics, phát triển hạ tầng xanh, đồng thời thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao. Năm 2026, thành phố đặt mục tiêu nâng tỷ trọng kinh tế số lên 31% GRDP và tăng sự tham gia của doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn quốc tế.
Năm 2026, Hải Phòng đặt mục tiêu GRDP tăng từ 13% trở lên, kinh tế số chiếm 31% GRDP, trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 45,8% GRDP và sản phẩm công nghệ cao chiếm 63% cơ cấu ngành. Các chỉ tiêu này đặt chuyển đổi số vào trung tâm của quá trình nâng năng suất và thay đổi mô hình sản xuất.

Tại doanh nghiệp, tự động hóa đang được triển khai theo hướng gắn trực tiếp với hiệu quả vận hành. SOS Hàng hải Việt Nam tiết kiệm hơn 300 triệu đồng chi phí nhân công sau một năm áp dụng phần mềm quản lý và công nghệ tự động. Hyundai Kefico Việt Nam vận hành 60 dây chuyền tự động hóa sản xuất linh kiện điện tử ô tô, với sản lượng khoảng 87 triệu sản phẩm mỗi năm, qua đó tối ưu nguyên liệu và điện năng. Fuji Chế tạo máy cũng đã chuyển giao các dây chuyền tự động hóa cho doanh nghiệp sản xuất linh kiện ô tô từ năm 2024.
Cảng biển là một mắt xích quan trọng trong quá trình số hóa. Cảng Container quốc tế Hateco Hải Phòng ứng dụng hệ điều hành TOS NAVIS N4, mạng 5G riêng và cổng nhận diện tự động OCR, giúp 100% xe tải qua cổng tự động với thời gian quay vòng dưới 14 phút. Cảng đạt 808.000 TEU ngay trong năm đầu vận hành.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, lượng hàng hóa qua hệ thống cảng Hải Phòng đạt hơn 134 triệu tấn, tăng 11,74% so với cùng kỳ. Thành phố đặt mục tiêu đạt 238 triệu tấn trong cả năm và đang định hướng xây dựng nền tảng dữ liệu dùng chung Port Community System, kết nối cơ quan quản lý, hải quan, cảng biển và doanh nghiệp logistics.
Việc hình thành hệ sinh thái dữ liệu dùng chung được đặt trong yêu cầu giảm chi phí tuân thủ và rút ngắn thời gian xử lý hàng hóa. Khi dữ liệu được kết nối, doanh nghiệp có thể đồng bộ các khâu từ khai báo, giao nhận đến vận chuyển, qua đó nâng hiệu quả của toàn bộ chuỗi logistics.
Cùng với số hóa, Hải Phòng đang chuyển trọng tâm sang phát triển logistics xanh. Thành phố hiện có hơn 700 ha kho bãi, ngành logistics tăng trưởng 20–23% mỗi năm và đóng góp khoảng 13–15% GRDP. Đến năm 2030, diện tích đất dành cho thương mại, dịch vụ và logistics dự kiến tăng lên 1.700–2.000 ha, tạo dư địa hình thành trung tâm logistics quốc tế tại khu vực Đình Vũ - Cát Hải.
Một hướng đi được thành phố thúc đẩy là chuyển dịch hàng hóa từ đường bộ sang đường thủy nội địa và vận tải ven biển. Hải Phòng phối hợp thử nghiệm, đóng mới các tàu ven biển chạy hoàn toàn bằng điện, sức chở 550–600 TEU, hướng tới giảm phát thải trong vận chuyển hàng hóa.
Tại Cảng Nam Đình Vũ, hạ tầng phục vụ hàng siêu trường, siêu trọng cũng được đầu tư với cầu bến chịu tải 8 tấn/m². Công trình đã phục vụ xếp dỡ các kiện hàng có trọng lượng lớn, trong đó kiện nặng nhất lên tới 482 tấn, phục vụ dự án Phoenix Biorefinery sản xuất nhiên liệu bền vững.

Hạ tầng logistics vì vậy được đặt trong mối liên hệ với yêu cầu thu hút đầu tư mới. Giai đoạn 2026–2030, Hải Phòng đặt mục tiêu thu hút bình quân 4–5 tỷ USD FDI mỗi năm, trong đó khu thương mại tự do, khu kinh tế và khu công nghiệp đạt 3,7–4,7 tỷ USD. Thành phố định hướng trên 90% dòng vốn đến từ các nền kinh tế phát triển, đồng thời phấn đấu thu hút mới hoặc mở rộng dự án của 4–6 tập đoàn thuộc Fortune 500.
Điểm đáng chú ý là mục tiêu FDI được đặt cùng yêu cầu nâng tỷ lệ tham gia của doanh nghiệp trong nước. Hải Phòng phấn đấu mỗi năm có thêm ít nhất 20 doanh nghiệp nội địa tham gia chuỗi cung ứng của các tập đoàn FDI, hướng tới tỷ lệ nội địa hóa 60% trong ngành ô tô, 40% trong cơ khí chế tạo, 25–30% trong công nghiệp hỗ trợ điện tử và 15% trong công nghệ cao.
Định hướng này cho thấy bài toán thu hút FDI đang được đặt rộng hơn việc gia tăng vốn đăng ký. Thành phố hướng tới hình thành liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước, đồng thời gắn dòng vốn mới với công nghệ, năng lực sản xuất và hạ tầng logistics.
Đến năm 2030, Hải Phòng đặt mục tiêu tỷ lệ khu công nghiệp sinh thái đạt khoảng 10% tổng số khu công nghiệp, tỷ lệ lao động khu vực FDI đạt 26,5–27% tổng lao động và 92% lao động qua đào tạo. Tầm nhìn đến năm 2045, khu vực FDI được định hướng đóng góp 40–45% GRDP và chiếm khoảng 50% tổng vốn đầu tư toàn xã hội.
Ba hướng đi số hóa, xanh hóa và thu hút FDI vì vậy có mối liên hệ trực tiếp. Hệ thống sản xuất tự động và dữ liệu số nâng năng suất; logistics xanh giúp giảm chi phí và đáp ứng yêu cầu môi trường; còn dòng vốn FDI công nghệ cao tạo thêm nhu cầu đối với hạ tầng, nhân lực và doanh nghiệp cung ứng trong nước. Hải Phòng đang đặt mục tiêu kết nối các yếu tố này thành một hệ sinh thái kinh tế có khả năng tạo giá trị cao hơn trong giai đoạn 2026–2030.