hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Nghị quyết 36/2026/NQ-CP tạo cú hích giải phóng nguồn lực xuất khẩu sầu riêng, nhưng sự bền vững của ngành hàng tỷ đô vẫn phụ thuộc vào chiến lược quản lý quy hoạch và xây dựng thương hiệu quốc gia.
Sầu riêng đã khẳng định vị thế là một trong những mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực mang lại giá trị kinh tế cao nhất cho Việt Nam. Báo cáo từ Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp tại cuộc họp chiều 10/08 cho thấy, diện tích trồng sầu riêng trên cả nước ước đạt khoảng 200.000 ha, trong đó, diện tích đang cho thu hoạch sản phẩm chiếm 129.500 ha với tổng sản lượng dự kiến đạt khoảng 2,08 triệu tấn. Nhìn lại quy hoạch ban đầu của ngành hàng vốn chỉ dừng ở mức 100.000 ha, quy mô thực tế hiện tại đã tăng gấp đôi.

Sự bứt phá về quy mô giúp kim ngạch xuất khẩu liên tục lập đỉnh. Trong 7 tháng đầu năm 2026, cả nước đã thu hoạch 768.000 tấn và xuất khẩu 493.000 tấn sầu riêng quả tươi, mang về giá trị khoảng 950,7 triệu USD, tăng 31% so với cùng kỳ.
Với đà tăng trưởng này, Thứ trưởng Nguyễn Hoàng Hiệp khẳng định, mục tiêu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu sầu riêng cán mốc trên 4 tỷ USD trong năm 2026 chắc chắn nằm trong tầm tay. Tuy nhiên, thách thức lớn nhất hiện nay nằm ở độ lệch pha giữa năng lực hạ tầng và tiến độ thu hoạch. Trong 5 tháng cuối năm 2026, dự kiến có khoảng 1,3 triệu tấn sầu riêng cần tiêu thụ, tập trung chủ yếu tại khu vực Tây Nguyên như Đắk Lắk 500.000 tấn, Lâm Đồng 300.000 tấn và Gia Lai 58.000 tấn.
Sản lượng dồn dập trong khoảng thời gian ngắn từ tháng 8 đến tháng 10 tạo ra áp lực đè nặng lên khâu thu hoạch, kiểm nghiệm và dịch vụ logistics. Để giải quyết dứt điểm tình trạng ách tắc, Nghị quyết 36/2026/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 31/07/2026 về đơn giản hóa thủ tục hành chính đối với mã số vùng trồng và mã số cơ sở đóng gói đã ra đời kịp thời.
Tính đến tháng 7/2026, cả nước có hơn 1.200 mã số vùng trồng và 120 mã số cơ sở đóng gói phục vụ thị trường Trung Quốc đang hoạt động, bên cạnh hơn 1.100 mã số đang chờ phía bạn phê duyệt. Hệ thống kiểm nghiệm với 50 phòng thử nghiệm được cơ quan chức năng Trung Quốc chấp thuận đạt công suất 13.000 mẫu mỗi ngày đối với chất Cadimi và 10.000 mẫu mỗi ngày đối với chất Vàng O, hoàn toàn đáp ứng nhu cầu kiểm định trong thời gian cao điểm đạt từ 800 đến 900 lô hàng mỗi ngày.
Chuẩn hóa chất lượng, xây dựng thương hiệu quốc gia
Mặc dù, các quy định pháp lý về thủ tục cấp mã số đã được đơn giản hóa, giới chuyên gia ngành nông nghiệp và các cơ quan quản lý nhận định sự phát triển nóng của ngành sầu riêng vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro về mất cân đối cung cầu và kiểm soát chất lượng.

Chỉ đạo tại cuộc họp, Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay là rà soát, tổ chức lại sản xuất, quản lý chặt chẽ diện tích trồng, tránh tình trạng người dân tự phát mở rộng diện tích tại các vùng không phù hợp dẫn đến dư thừa nguồn cung.
Phân tích dưới góc độ quản lý dữ liệu, đại diện Bộ Khoa học và Công nghệ đề xuất thay vì chờ các vườn trồng tự gửi hồ sơ đề xuất, các địa phương cần chủ động triển khai chiến dịch gắn mã số vùng trồng đồng loạt cho tất cả các vườn hiện có tương tự như gắn số nhà, từ đó hình thành hệ thống dữ liệu định danh đầy đủ phục vụ trao đổi và kết nối thông tin liên thông.
Ở góc độ thị trường quốc tế, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân đánh giá sự phụ thuộc lớn vào việc xuất khẩu quả tươi chính ngạch sang một số thị trường truyền thống đặt ra yêu cầu cấp thiết về việc đa dạng hóa đầu ra và đầu tư công nghệ chế biến sâu. Việc mở cửa thành công thị trường Ấn Độ cho sầu riêng tươi Việt Nam trong tháng 7/2026 cùng quá trình tích cực đàm phán mở rộng sang Australia, New Zealand, Hoa Kỳ và Châu Âu thể hiện sự chủ động trong công tác xúc tiến thương mại.
Các chuyên gia thương mại cũng lưu ý, Bộ Công Thương cùng các cơ quan chức năng cần khẩn trương phối hợp xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc bài bản, không chỉ cho sầu riêng mà cho toàn bộ nông sản xuất khẩu.
Song song với hạ tầng logistics, hệ thống bảo quản sau thu hoạch và các nhà máy chế biến sâu tại các vùng nguyên liệu tập trung cần được khuyến khích đầu tư mạnh mẽ nhằm gia tăng giá trị sản phẩm, giảm tải áp lực tiêu thụ quả tươi trong mùa cao điểm. Việc xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam không chỉ dừng lại ở chỉ dẫn địa lý hay danh xưng thương mại, mà phải được bảo chứng bằng cam kết chất lượng đồng nhất từ khâu trồng trọt đến khâu đóng gói.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương, doanh nghiệp xuất khẩu và người nông dân trong việc tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật sẽ là chìa khóa tháo gỡ triệt để các rào cản thương mại, đưa ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp và bền vững.