hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số từ năm 2026, khu vực kinh tế tư nhân cần được tạo thêm điều kiện để mở rộng đầu tư, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nghiên cứu của GS.TS. Nguyễn Đông Phong và TS. Nguyễn Kim Đức, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (UEH), chỉ ra những điểm nghẽn đang hạn chế động lực phát triển của doanh nghiệp tư nhân và đề xuất các hướng tháo gỡ từ góc độ thể chế.
Nghiên cứu được thực hiện từ năm 2025 thông qua khảo sát và phỏng vấn sâu lãnh đạo doanh nghiệp tư nhân. Theo nhóm tác giả, các điểm nghẽn về thị trường đầu ra, tiếp cận vốn, minh bạch và khả năng dự báo chính sách, cùng chi phí không chính thức có mối liên hệ chặt chẽ và tác động dây chuyền đến hoạt động doanh nghiệp.
Sức ép từ thị trường đầu ra gia tăng khi tổng cầu toàn cầu suy giảm, trong khi các yêu cầu về kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn và số hóa ngày càng cao. Nhiều doanh nghiệp tư nhân có lợi thế tại thị trường trong nước nhưng còn hạn chế về năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn để tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tiếp cận vốn tiếp tục là vấn đề lớn, nhất là với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thiếu tài sản thế chấp, báo cáo tài chính chưa được chuẩn hóa và hạn chế về khả năng hấp thụ công nghệ khiến doanh nghiệp khó tiếp cận nguồn lực cho mở rộng sản xuất và đổi mới sáng tạo.
Bên cạnh đó, quy định chồng chéo và khả năng dự báo chính sách hạn chế làm gia tăng rủi ro pháp lý. Khi khó dự báo chi phí và thời gian thực hiện các quyết định đầu tư, doanh nghiệp có xu hướng ưu tiên dòng tiền ngắn hạn thay vì dành nguồn lực cho công nghệ, hạ tầng xanh và chuyển đổi số.
Từ khung lý thuyết phát triển khu vực tư nhân của Miyamoto và Chiofalo (2017), nhóm nghiên cứu phân chia điểm nghẽn thành ba tầng: thượng nguồn là thể chế và chính sách; trung nguồn là vận hành thị trường; hạ nguồn là năng lực nội tại của doanh nghiệp.
Trong đó, thể chế được xác định là ưu tiên hàng đầu. Nhóm tác giả đề xuất chuyển từ tư duy “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, hạn chế hình sự hóa các quan hệ kinh tế thuần túy và thực hiện cơ chế một cửa thực chất. Pháp luật cũng cần có tính linh hoạt, thích ứng với tốc độ phát triển của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Cách tiếp cận dựa trên nguyên tắc thay cho quy định quá chi tiết có thể tạo thêm không gian cho các mô hình kinh doanh mới. Khi môi trường chính sách minh bạch và ổn định hơn, doanh nghiệp có cơ sở đánh giá rủi ro, tiếp cận nguồn lực và xây dựng kế hoạch đầu tư dài hạn.
Theo nhóm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Do đó, chính sách cần tạo điều kiện để doanh nghiệp thử nghiệm công nghệ, phát triển sản phẩm mới và chấp nhận rủi ro trong phạm vi kiểm soát.
Một trong những giải pháp được đề xuất là xây dựng khung thử nghiệm có kiểm soát (sandbox), tạo điều kiện cho doanh nghiệp thử nghiệm các mô hình mới trong những lĩnh vực pháp luật chưa kịp điều chỉnh. Thủ tục về sở hữu trí tuệ cũng cần được đơn giản hóa nhằm hỗ trợ nghiên cứu và thương mại hóa công nghệ.
Nguồn vốn cho đổi mới sáng tạo cần được mở rộng thông qua các quỹ đầu tư đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh có sự tham gia của khu vực công và tư nhân. Chính sách ưu đãi thuế được đề xuất chuyển trọng tâm sang chi phí đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), thay vì tập trung vào doanh thu và lợi nhuận.
Nhà nước cũng có thể tạo thị trường thông qua cơ chế mua sắm công, ưu tiên các sản phẩm và giải pháp công nghệ do doanh nghiệp trong nước nghiên cứu, phát triển. Việc tăng cường phân cấp, phân quyền cho địa phương sẽ tạo thêm điều kiện để khai thác lợi thế từng vùng và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường.
Theo nhóm tác giả, minh bạch và khả năng dự báo chính sách có ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư đổi mới sáng tạo. Hoạt động này cần thời gian dài để thu hồi vốn, nên môi trường pháp lý thiếu ổn định sẽ làm doanh nghiệp khó đánh giá rủi ro và giảm động lực đầu tư cho R&D.
Cùng với cải thiện thể chế, mô hình liên kết “ba nhà” giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu cần được thực chất hóa thông qua cơ chế chia sẻ rủi ro, đặt hàng công nghệ và hỗ trợ thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Mô hình hợp tác 4P giữa khu vực công, khu vực tư, giới học thuật và cộng đồng cũng có thể mở rộng nguồn lực cho hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Tháo gỡ điểm nghẽn thể chế sẽ tạo nền tảng để doanh nghiệp tư nhân chuyển từ chiến lược phòng thủ sang đầu tư dài hạn, nâng cao năng lực công nghệ và mở rộng quy mô. Đây cũng là điều kiện quan trọng để khu vực kinh tế tư nhân đóng góp mạnh hơn vào mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế.
GS.TS. Nguyễn Đông Phong, TS. Nguyễn Kim Đức – Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh.