hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Ngành điện tử, bán dẫn tăng trưởng nhanh nhưng vẫn phụ thuộc lớn vào đầu vào nhập khẩu. Tại cuộc làm việc sáng 8/9, Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Phạm Gia Túc yêu cầu tập trung tháo gỡ điểm nghẽn, nâng giá trị gia tăng và phát triển năng lực cung ứng trong nước.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất công nghiệp ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 12,82%. Giá trị sản xuất máy tính xách tay đạt khoảng 34,8 nghìn tỷ đồng, tăng 30%, trong khi sản lượng điện thoại sản xuất trong nước ước đạt 90 triệu chiếc, tăng 3,85%.
Đà tăng trưởng tiếp tục thể hiện rõ ở hoạt động xuất khẩu. Trong 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu nhóm máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt khoảng 101 tỷ USD, tăng 51%. Tuy nhiên, nhập khẩu lên tới 161,6 tỷ USD, tăng 68,3%, khiến nhóm hàng này nhập siêu khoảng 60,5 tỷ USD.
Bức tranh này cho thấy quy mô sản xuất và xuất khẩu điện tử đang mở rộng nhanh, nhưng sự gia tăng của kim ngạch xuất khẩu vẫn đi kèm nhu cầu rất lớn về linh kiện, bán dẫn và nguyên vật liệu từ bên ngoài.

Theo Bộ Công Thương, phần lớn kim ngạch nhập khẩu là chip, bộ nhớ, bộ xử lý, màn hình, bảng mạch và các đầu vào phục vụ sản xuất, lắp ráp, đóng gói, kiểm thử, tích hợp sản phẩm để xuất khẩu. Đây là những yếu tố đầu vào có vai trò trực tiếp đối với năng lực sản xuất điện tử, song cũng cho thấy mức độ phụ thuộc đáng kể của ngành vào chuỗi cung ứng bên ngoài.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu điện thoại và linh kiện trong 8 tháng đạt khoảng 45,6 tỷ USD, tăng 19%; nhập khẩu đạt 6,86 tỷ USD, giảm 1,7%, đưa nhóm hàng này xuất siêu khoảng 38 tỷ USD.
Vấn đề đặt ra vì vậy không nằm ở khả năng mở rộng quy mô xuất khẩu, mà ở việc làm thế nào để tăng tỷ lệ giá trị được tạo ra trong nước. Khi các doanh nghiệp Việt Nam mới tham gia hạn chế vào những khâu có giá trị gia tăng cao, phần lớn giá trị của sản phẩm điện tử xuất khẩu vẫn phụ thuộc vào linh kiện, công nghệ và nguyên vật liệu nhập khẩu.
Đây cũng là khoảng trống cần được xử lý khi nhu cầu toàn cầu đối với AI, trung tâm dữ liệu, máy chủ và thiết bị điện tử đang mở ra thêm dư địa cho sản xuất tại Việt Nam. Cơ hội thu hút đầu tư sẽ lớn hơn nếu Việt Nam đồng thời phát triển được hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước đủ khả năng tham gia sâu vào chuỗi cung ứng.
Theo Phó Thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc, yêu cầu nội địa hóa cần được đặt trên cơ sở năng lực thực tế của doanh nghiệp Việt Nam, tránh cách làm mang tính áp đặt hành chính. Công nghiệp hỗ trợ phải xuất phát từ nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp FDI, tập trung vào những sản phẩm, linh kiện và công đoạn mà doanh nghiệp trong nước có khả năng đáp ứng.
Quan điểm này đặt trọng tâm vào chất lượng tham gia chuỗi cung ứng thay vì chạy theo một tỷ lệ nội địa hóa mang tính hình thức. Khi doanh nghiệp Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu về công nghệ, chất lượng, sản lượng và tiến độ, việc áp đặt tỷ lệ nội địa hóa sẽ khó tạo ra chuỗi cung ứng bền vững. Ngược lại, nếu xác định đúng những sản phẩm có khả năng sản xuất trong nước và hỗ trợ doanh nghiệp nâng năng lực theo từng chuỗi, quá trình nội địa hóa sẽ thực chất hơn.

Phó Thủ tướng Thường trực cũng đặt yêu cầu tăng cường kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn điện tử, bán dẫn và công nghệ lớn, trong đó chú trọng kết nối theo từng chuỗi sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật và nhu cầu thực tế. Cách tiếp cận này nhằm chuyển hoạt động kết nối từ những chương trình chung sang các đơn hàng, sản phẩm và tiêu chuẩn cụ thể, tạo điều kiện để doanh nghiệp trong nước từng bước trở thành nhà cung ứng trong chuỗi.
Doanh nghiệp FDI cần được khuyến khích chia sẻ tiêu chuẩn kỹ thuật, quy trình quản lý chất lượng và tham gia đào tạo nhân lực, qua đó tạo điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam hiểu rõ yêu cầu của chuỗi cung ứng và từng bước nâng khả năng đáp ứng; ở chiều ngược lại, doanh nghiệp trong nước phải chủ động đầu tư công nghệ, tăng năng lực nghiên cứu và phát triển, đẩy mạnh chuyển đổi số, tự động hóa và cải thiện quản trị để từ vị trí gia công, lắp ráp từng bước tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn.
Muốn nội địa hóa đi vào thực chất, công nghiệp hỗ trợ phải được phát triển theo từng chuỗi sản phẩm và bám sát nhu cầu của thị trường. Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ giai đoạn 2026-2035 theo Quyết định 929/QĐ-TTg tạo cơ sở để nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển mạng lưới cung ứng vật liệu, linh kiện trong nước và kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn lớn, doanh nghiệp FDI. Trọng tâm là xây dựng được những doanh nghiệp có sản phẩm đáp ứng yêu cầu thực tế về tiêu chuẩn, chất lượng, sản lượng và tiến độ, thay vì mở rộng số lượng doanh nghiệp tham gia theo hướng dàn trải.
Cùng với công nghệ và thị trường đầu ra, vốn đang là một điểm nghẽn cần được tháo gỡ để doanh nghiệp nhỏ và vừa có đủ nguồn lực đầu tư máy móc, tự động hóa, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số, đặc biệt đối với những doanh nghiệp đang có khả năng tham gia chuỗi cung ứng điện tử, bán dẫn nhưng còn hạn chế về năng lực tài chính. Vì vậy, chính sách tín dụng cần được nghiên cứu theo hướng phù hợp hơn với đặc thù đầu tư công nghệ và chu kỳ sản xuất của nhóm doanh nghiệp này, trong khi chính sách thuế cũng cần được rà soát để hỗ trợ sản xuất linh kiện, vật liệu trong nước và các dự án đầu tư công nghệ.
Nhân lực cũng phải được xem là một mắt xích của quá trình nâng cấp chuỗi giá trị, bởi nếu thiếu đội ngũ có năng lực thiết kế chip, làm chủ công nghệ bán dẫn, điện tử, tự động hóa và vật liệu thì doanh nghiệp trong nước khó bước lên những công đoạn có giá trị cao dù đã có thị trường và nguồn vốn. Do đó, đào tạo phải gắn trực tiếp với nhu cầu của doanh nghiệp, tăng liên kết giữa cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu và doanh nghiệp, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế và thu hút nhân lực chất lượng cao để rút ngắn quá trình tích lũy năng lực công nghệ.
Cơ hội của ngành điện tử, bán dẫn đang mở rộng cùng sự phát triển của AI, trung tâm dữ liệu, máy chủ và nhu cầu thiết bị công nghệ toàn cầu, nhưng để chuyển cơ hội về thị trường và đầu tư thành động lực tăng trưởng dài hạn, Việt Nam phải nâng tỷ lệ giá trị do doanh nghiệp trong nước tạo ra, từng bước chuyển từ mở rộng quy mô sản xuất sang nâng chất lượng tăng trưởng, từ lắp ráp sang làm chủ công nghệ và giảm phụ thuộc vào linh kiện, vật liệu nhập khẩu bằng việc hình thành mạng lưới cung ứng trong nước có khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Muốn giảm phụ thuộc nhập khẩu, Việt Nam phải xác định đúng những công đoạn và sản phẩm có thể làm được, kết nối nhu cầu của doanh nghiệp FDI với năng lực của doanh nghiệp Việt Nam, đồng thời hỗ trợ có trọng tâm về vốn, công nghệ, nhân lực và chính sách, từ đó từng bước nâng tỷ lệ giá trị gia tăng trong nước và vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi cung ứng điện tử, bán dẫn toàn cầu.