hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Đầu tư phát triển tín chỉ carbon rừng là một hoạt động quan trọng, mang lại lợi ích kép cho cả môi trường và kinh tế. Tín chỉ carbon rừng được tạo ra từ các hoạt động như bảo vệ, tái tạo và phát triển rừng và có thể được giao dịch trên thị trường carbon.
Rừng có vai trò rất quan trọng đối với cuộc sống của con người cũng như môi trường: cung cấp nguồn gỗ, củi, tạo ra oxy, điều hòa lưu lượng nước, là nơi cư trú động thực vật và lưu trữ các nguồn gen quý hiếm, bảo vệ và ngăn chặn gió bão, chống xói mòn đất, bảo vệ môi trường, đảm bảo cho sự sống và bảo vệ sức khỏe của con người… Rừng còn có ý nghĩa kinh tế rất lớn, cung cấp tài nguyên gỗ làm vật liệu xây dựng, là nguyên liệu của ngành sản xuất và chế biến lâm sản, sản xuất giấy, đem tới công ăn việc làm, của cải cho con người.
Với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, bảo vệ môi trường và đảm bảo sinh kế cho người dân, phát triển kinh tế lâm nghiệp, Việt Nam đẩy mạnh phát triển rừng. Hiện nay, tín chỉ carbon rừng đang được ngành lâm nghiệp quan tâm. Tín chỉ carbon rừng được tạo ra từ các hoạt động dự án giảm phát thải nhà kính như giảm mất rừng và suy thoái rừng; tăng cường hoạt động trồng rừng, tái trồng rừng, tái tạo thảm thực vật và hoạt động tăng cường quản lý rừng.
Chủ rừng có thể quy đổi diện tích rừng đang quản lý, bảo vệ ra lượng hấp thụ khí CO2, ra tín chỉ carbon và có thể bán tín chỉ này tại thị trường carbon qua cơ chế giảm phát thải khí nhà kính. Phát triển thị trường carbon rừng góp phần thực hiện mục tiêu "Trồng một tỷ cây xanh giai đoạn 2021-2025" và giảm phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, đồng thời giúp người dân dần từ bỏ thói quen xâm hại rừng, ngày càng tham gia tích cực hơn vào công tác giữ gìn, bảo vệ hệ sinh thái rừng, đảm bảo sự phát triển kinh tế bền vững.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang lấy ý kiến nhân dân đối với dự thảo Nghị định quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Nghị định quy định về đối tượng, hình thức, mức chi trả; xác định lượng kết quả giảm phát thải và tín chỉ carbon rừng được cung ứng; quản lý sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, qua gần 3 năm thực hiện Nghị định số 107/2022/NĐ-CP ngày 28/12/2022 của Chính phủ về thí điểm chuyển nhượng kết quả giảm phát thải và quản lý tài chính thỏa thuận chi trả giảm phát thải khí nhà kính vùng Bắc Trung Bộ, cho thấy đây là chính sách được xây dựng và tổ chức thực hiện xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất và đời sống, tạo nguồn thu mới để đầu tư vào bảo vệ và phát triển rừng.
Việc thực hiện Nghị định đã có tác động lan tỏa, tạo ra hiệu ứng tích cực, phù hợp với quy luật của nền kinh tế thị trường, mang lại động lực, lợi ích chung cho cộng đồng; mở rộng hợp tác với các đối tác, chương trình, dự án quốc tế, tranh thủ sự hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính để triển khai dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng trong phạm vi toàn quốc.
Dự thảo Nghị định quy định 5 nguyên tắc, trong đó có nguyên tắc kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng đã được trao đổi, chuyển nhượng theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch carbon trong nước thì bên cung ứng không được trao đổi, chuyển nhượng cho các bên sử dụng khác; nguyên tắc này phù hợp với thông lệ quốc tế để tránh bán tín chỉ 2 lần. Ngoài ra, việc quản lý sử dụng nguồn thu từ carbon rừng phù hợp với quy định tại Luật Lâm nghiệp.
Tờ trình dự thảo Nghị định nêu rõ bên cung ứng vẫn theo quy định tại Nghị định 156/2018/NĐ-CP, tuy nhiên bên sử dụng dịch vụ mở rộng một số đối tượng. Trong dự thảo tờ trình, Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân tích, theo Luật Lâm nghiệp năm 2017, bên sử dụng dịch vụ là “Tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh gây phát thải khí nhà kính lớn”.
Theo Nghị định số 06/2022/NĐ-CP ngày 7/1/2022 của Chính phủ quy định giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn đã được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 119/2025/NĐ-CP ngày 9/6/2025, các doanh nghiệp bị thiếu hạn ngạch sẽ mua tín chỉ carbon trên thị trường carbon trong nước để bù trừ tối đa 30% hạn ngạch.
Do đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng nếu chỉ quy định bên sử dụng là “cơ sở phát thải lớn” thì nhu cầu mua bị giới hạn do tỷ lệ được bù trừ và sự cạnh tranh của carbon rừng với các loại tín chỉ khác (nông nghiệp, chăn nuôi, năng lượng, giao thông, rác thải…).
Bên cạnh đó, các đối tác quốc tế có nhu cầu mua tín chỉ carbon rừng của Việt Nam; nhiều doanh nghiệp trong nước “phát thải ít” (không phải thực hiện kiểm kê, không được phân bổ hoặc đấu giá hạn ngạch) cũng có nhu cầu mua kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng để thực hiện mục tiêu cam kết tự nguyện.
Về điều kiện đối với bên cung ứng là phải tạo ra kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng, phải thực hiện nghĩa vụ đóng góp vào giảm phát thải khí nhà kính do quốc gia tự quyết định (NDC) và các nghĩa vụ khác. Đối với bên sử dụng, là tổ chức hoạt động hợp pháp và thực hiện các nội dung theo hợp đồng hoặc cơ chế vận hành của sàn giao dịch carbon trong nước.
Về hình thức chi trả, do đặc thù của loại hàng hóa là tín chỉ carbon rừng, nên ngoài chi trả theo hợp đồng còn bổ sung hình thức chi trả theo cơ chế vận hành sàn giao dịch carbon trong nước, được coi là hình thức chi trả trực tiếp.
Dự thảo Nghị định quy định mức chi trả là giá trao đổi, chuyển nhượng 1 tấn CO2 hoặc 1 tín chỉ carbon rừng, được tính bằng đồng Việt Nam hoặc ngoại tệ khác.
Dự thảo cũng quy định việc xác định giá trao đổi, chuyển nhượng dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng. Theo đó, đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân: dự thảo quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp định giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng, UBND cấp tỉnh ban hành bảng giá carbon đối với rừng thuộc phạm vi quản lý của địa phương.
Giá này làm căn cứ xác định giá khởi điểm trên sàn giao dịch carbon hoặc đấu giá trước khi ký hợp đồng cung ứng, vì giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon rừng có nhiều biến động, nên không quy định mức giá cụ thể như 4 loại dịch vụ môi trường rừng khác theo quy định tại Nghị định 156/2018/NĐ-CP mà trên cơ sở vận dụng quy định của Luật Giá năm 2023 đề xuất cơ quan nhà nước định giá.
Đối với rừng không thuộc sở hữu toàn dân, dự thảo khuyến khích áp dụng hướng dẫn định giá để định giá dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng đối với rừng sản xuất là rừng trồng thuộc sở hữu của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư.
Dự thảo Nghị định cũng quy định việc triển khai dự án carbon rừng theo tiêu chuẩn carbon trong nước và quốc tế để phù hợp với Nghị định số 119/2025/NĐ-CP về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 06/2022/NĐ-CP.
Ngoài ra, dự thảo Nghị định quy định trường hợp chủ rừng sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng nằm xen kẽ, liền kề với diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân có nhu cầu tham gia dự án carbon rừng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường hoặc UBND cấp tỉnh triển khai, thì chủ rừng thực hiện cam kết tham gia và có biên bản xác nhận.
Đối với quy định về xác định lượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng được cung ứng từ dự án carbon rừng, Bộ Nông nghiệp và Môi trường thông tin, hiện tại, lĩnh vực lâm nghiệp được phân bổ lượng giảm phát thải 3,5% trong tổng số cam kết NDC 15,8% (tập trung vào diện tích rừng thuộc sở hữu toàn dân). Do vậy, việc trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ carbon rừng phải đảm bảo nguyên tắc đóng góp đủ lượng NDC được phân bổ cho lĩnh vực lâm nghiệp (3,5%).
Từ thực tế trên, dự thảo quy định Bộ Nông nghiệp và Môi trường phân bổ hạn ngạch NDC cho địa phương; xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng được cung ứng đối với dự án carbon rừng do UBND cấp tỉnh triển khai; xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng được cung ứng đối với dự án carbon rừng do Bộ Nông nghiệp và Môi trường triển khai sau khi thực hiện nghĩa vụ đóng góp giảm phát thải do quốc gia tự quyết định đã được phân bổ cho tỉnh.
UBND cấp tỉnh phân bổ hạn ngạch NDC cho các chủ rừng và xác định lượng kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ carbon rừng được cung ứng đối với dự án carbon rừng do tổ chức triển khai thuộc phạm vi quản lý của tỉnh.