hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045 đặt mục tiêu nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng tỷ trọng hàng chế biến, chế tạo và cải thiện đóng góp của doanh nghiệp trong nước. Để thực hiện định hướng này, Việt Nam cần phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực công nghệ và giảm phụ thuộc vào mô hình gia công.
Tại hội thảo lấy ý kiến về Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045 do Bộ Công Thương tổ chức, các đại biểu tập trung thảo luận yêu cầu chuyển từ tăng trưởng dựa vào quy mô sang nâng cao giá trị gia tăng của hàng hóa xuất nhập khẩu.
Theo dự thảo, giai đoạn 2026–2030, kim ngạch xuất khẩu phấn đấu tăng bình quân 15–16%/năm, nhập khẩu tăng 12–13%/năm. Cán cân thương mại hướng tới thặng dư bền vững, với tỷ trọng xuất siêu đạt 3–6% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Dự thảo đưa ra ba kịch bản kim ngạch xuất khẩu đến năm 2030, gồm 765 tỷ USD ở kịch bản thấp, 953,7 tỷ USD ở kịch bản trung bình và 1.041,1 tỷ USD ở kịch bản cao. Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 10 quốc gia có kim ngạch xuất nhập khẩu lớn nhất thế giới, với tỷ trọng xuất siêu đạt 7–10%.
Các mục tiêu này đi cùng yêu cầu thay đổi cơ cấu hàng hóa và nâng cao năng lực của doanh nghiệp nội địa. Theo dự thảo, tỷ trọng đóng góp của doanh nghiệp trong nước trong tổng kim ngạch xuất khẩu cần đạt 28–30% vào năm 2030 và 38–40% vào năm 2045. Hàng chế biến, tinh chế được định hướng chiếm 89–90% tổng kim ngạch xuất khẩu vào năm 2030, tăng lên trên 92% vào năm 2045.
Thứ trưởng Bộ Công Thương Lương Hoàng Thái cho rằng độ mở thương mại của Việt Nam đã ở mức rất cao, đòi hỏi chiến lược xuất nhập khẩu phải chuyển trọng tâm từ tăng trưởng về lượng sang nâng cao chất lượng và hiệu quả.
Theo định hướng được nêu tại hội thảo, hoạt động xuất nhập khẩu cần gắn với quá trình nâng cấp năng lực sản xuất và vị trí của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị. Ngành điện tử là một ví dụ được đề cập, với yêu cầu chuyển từ lắp ráp sang các công đoạn phức tạp hơn như kiểm tra, thử nghiệm và chế tạo.
Định hướng này đặt ra yêu cầu phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao năng lực cung ứng linh kiện và nguyên phụ liệu trong nước. Khi nguồn cung nội địa chưa đáp ứng nhu cầu sản xuất, doanh nghiệp phải phụ thuộc vào nhập khẩu, đồng thời gặp khó khăn trong việc kiểm soát chi phí và chủ động kế hoạch sản xuất.
Ông Phạm Văn Quân, Phó Cục trưởng Cục Công nghiệp, Bộ Công Thương, đề xuất tập trung các chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ để giúp doanh nghiệp trong nước chủ động nguồn linh kiện, nguyên phụ liệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.
Bên cạnh năng lực sản xuất, doanh nghiệp cần tiếp nhận và làm chủ công nghệ. Đại diện Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại thuộc Bộ Công Thương đề xuất bổ sung chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp nhận, ứng dụng công nghệ hiện đại, kể cả thông qua nhập khẩu máy móc, thiết bị.
Việc nhập khẩu công nghệ cần phục vụ trực tiếp cho quá trình nâng năng suất, cải thiện chất lượng và tăng giá trị sản phẩm. Doanh nghiệp cần có kế hoạch đầu tư phù hợp với năng lực tài chính, đồng thời phát triển đội ngũ lao động đủ khả năng vận hành và làm chủ công nghệ.
Dự thảo chiến lược đặt mục tiêu sản phẩm công nghệ cao chiếm khoảng 50% giá trị xuất khẩu hàng chế biến, chế tạo vào năm 2030 và trên 55% vào năm 2045. Để đạt mục tiêu này, doanh nghiệp cần tăng năng lực nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm, giảm phụ thuộc vào các công đoạn gia công có giá trị gia tăng thấp.
Đại diện Cục Xuất nhập khẩu, bà Nguyễn Cẩm Trang, cho biết mục tiêu xuất nhập khẩu cần được đặt ở mức cao hơn trong bối cảnh Việt Nam hướng tới tăng trưởng kinh tế hai con số. Việc thực hiện mục tiêu đòi hỏi giải pháp đồng bộ từ cải cách thủ tục, nâng năng lực sản xuất đến mở rộng thị trường.
Chuyển đổi mô hình sản xuất là yêu cầu đặt ra đối với nhiều ngành hàng xuất khẩu. Theo ông Ngô Sỹ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam, doanh nghiệp ngành gỗ đang chịu sức ép cạnh tranh từ các đối thủ mới như Ấn Độ. Nhiều doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào gia công cho đối tác nước ngoài, trong khi năng lực thiết kế và sáng tạo mẫu mã chưa được phát huy đầy đủ.
Để tăng giá trị sản phẩm, doanh nghiệp gỗ cần chủ động thiết kế, phát triển mẫu mã và nâng cao năng lực đáp ứng yêu cầu của khách hàng. Việc chuyển khỏi mô hình gia công thụ động đòi hỏi đầu tư cho nhân lực, công nghệ và tổ chức sản xuất, đồng thời xây dựng khả năng tiếp cận thị trường trực tiếp.

Ngành thủy sản cũng cần thay đổi cách tiếp cận. Ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam, đề xuất cụ thể hóa chiến lược thành chương trình hành động có lộ trình, bảo đảm sự phối hợp giữa các bộ, ngành và khả năng điều chỉnh trước biến động quốc tế.
Theo định hướng được thảo luận, doanh nghiệp thủy sản cần đẩy mạnh chế biến sâu, nâng cao chất lượng sản phẩm và tăng giá trị thu được từ nguồn nguyên liệu. Việc dựa chủ yếu vào lợi thế nguyên liệu thô sẽ hạn chế khả năng nâng cấp vị trí trong chuỗi giá trị.
Bên cạnh năng lực sản xuất, rào cản thương mại là vấn đề doanh nghiệp cần chủ động ứng phó. Ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại, lưu ý xu hướng gia tăng các biện pháp bảo hộ tại những thị trường nhập khẩu. Doanh nghiệp cần theo dõi chính sách thương mại của đối tác, nâng cao năng lực dự báo và chuẩn bị phương án xử lý khi phát sinh vụ việc phòng vệ thương mại.
Việc quản lý nguồn gốc nguyên liệu, minh bạch dữ liệu sản xuất và củng cố nguồn cung trong nước cũng cần được chú trọng. Đây là những nội dung gắn với khả năng đáp ứng yêu cầu về xuất xứ, chất lượng và hồ sơ hàng hóa tại các thị trường xuất khẩu.
Dự thảo Chiến lược xuất nhập khẩu hàng hóa đặt ra mục tiêu tăng trưởng cao, đồng thời yêu cầu thay đổi cơ cấu sản phẩm và nâng năng lực doanh nghiệp trong nước. Để thực hiện các mục tiêu này, chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ, tiếp nhận công nghệ, cải cách thủ tục và mở rộng thị trường cần được cụ thể hóa thành chương trình có lộ trình rõ ràng.
Về phía doanh nghiệp, nâng giá trị xuất khẩu đòi hỏi đầu tư cho thiết kế, công nghệ, chế biến sâu và năng lực quản trị. Khi doanh nghiệp chủ động hơn về nguyên liệu, công nghệ và thị trường, hoạt động xuất nhập khẩu sẽ có điều kiện đóng góp lớn hơn vào năng lực sản xuất trong nước và mục tiêu phát triển kinh tế dài hạn.