hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong quý II/2024, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 311,55 nghìn tấn, trị giá 499,17 triệu USD, giảm 24,8% về lượng và giảm 17,8% về trị giá so với quý I/2024; So với quý II/2023 giảm 19,1% về lượng và giảm 3,8% về trị giá.
Giá cao su châu Á tăng lên mức cao nhất trong 3 năm
Trong quý II/2024, giá cao su trên các sàn giao dịch chủ chốt tại châu Á tăng lên mức cao nhất trong vòng 3 năm vào đầu tháng 6/2024, trong bối cảnh thiếu hụt nguồn cung do thay đổi thời tiết và nhu cầu cho sản xuất lốp xe được cải thiện. Tuy nhiên, giá có xu hướng giảm kể từ cuối quý II/2024 do nguồn cung tăng lên khi các nước bắt đầu bước vào vụ khai thác mới. Trong thời gian tới, giá cao su được dự báo sẽ ở mức cao bởi nhu cầu phục vụ ngành sản xuất săm lốp phục hồi; trong khi sản lượng tại Thái Lan và In-đô-nê-xi-a dự báo giảm do chuyển giao thời tiết giữa El Nino và La Nina.
Trong tháng 7/2024, giá cao su tại các sàn giao dịch chủ chốt tại châu Á giảm mạnh so với tháng trước, trong bối cảnh nhu cầu cao su của Trung Quốc chậm lại, các nhà đầu tư đang đợi thêm các tín hiệu thúc đẩy thị trường.
Theo thống kê từ cục Xuất nhập khẩu, tại Sở giao dịch hàng hóa Osaka Exchange (OSE) Nhật Bản, ngày 29/7/2024, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn gần ở mức 318,4 Yên/kg (tương đương 2,07 USD/kg), giảm 7,7% so với cuối tháng 6/2024, nhưng vẫn tăng 60,6% so với cùng kỳ năm 2023.
Đối với sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su cũng trong xu hướng giảm mạnh so với tháng trước. Ngày 29/7/2024, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn gần ở mức 14.215 NDT/tấn (tương đương 1,96 USD/kg), giảm 5,6% so với cuối tháng 6/2024, nhưng vẫn tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2023.
Tại Thái Lan, giá cao su biến động mạnh, sau khi giảm xuống mức thấp nhất tháng vào ngày 10/7/2024 (xuống mức 67,41 Baht/kg), giá có xu hướng tăng trở lại trong 2 tuần gần đây, nhưng vẫn giảm mạnh so với cuối tháng trước. Ngày 25/7/2024, giá cao su RSS3 chào bán ở mức 70,91 Baht/kg (tương đương 1,97 USD/kg), giảm 6,8% so với cuối tháng 6/2024, nhưng vẫn tăng 39,2% so với cùng kỳ năm 2023.
Đối với thị trường nội địa, trong quý II/2024, giá mủ cao su nguyên liệu trên cả nước tăng theo xu hướng tăng của thị trường thế giới. Động lực chính giúp giá cao su trong nước tăng chủ yếu từ tình trạng thiếu hụt nguồn cung cao su tự nhiên, đặc biệt là từ hai quốc gia Thái Lan và In-đô-nê-xi-a. Tuy nhiên giá giá mủ cao su nguyên liệu có xu hướng giảm trở lại kể từ cuối quý II/2024 đến nay do lo ngại ngại nhu cầu của thị trường Trung Quốc chậm lại.
Trong tháng 7/2024, giá mủ chén và mủ nước tại các tỉnh, thành phố trên cả nước giảm so với tháng trước. Tại một số công ty cao su, hiện giá thu mua mủ cao su nguyên liệu duy trì quanh mức 345-390 đồng/TSC. Trong đó, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua ở mức 375-385 đồng/ TSC, giảm 5 đồng/TSC so với cuối tháng 6/2024. Công ty Cao su Mang Yang báo giá thu mua ở mức 362-372 đồng/TSC, giảm 18-20 đồng/TSC so với cuối tháng 6/2024. Công ty Cao su Phú Riềng thu mua mủ cao su nguyên liệu ở mức 345- 390 đồng/TSC, giảm 5-15 đồng/TSC so với cuối tháng trước.
Xuất khẩu cao su giảm do nhu cầu chững lại tại Trung Quốc
Trong quý II/2024, xuất khẩu cao su của Việt Nam giảm do nhu cầu cao su chững lại tại Trung Quốc do tình hình kinh tế chưa khả quan. Điểm sáng của xuất khẩu cao su là giá tăng cao, mở ra triển vọng tăng trưởng xuất khẩu cho ngành cao su Việt Nam. Thời gian tới, nhu cầu của Trung Quốc vẫn là yếu tố chủ chốt tác động đến hoạt động xuất khẩu cao su của Việt Nam. Theo các chuyên gia kinh tế, Trung Quốc đang phải đối mặt với nhiều khó khăn do sự suy giảm của thị trường bất động sản, trong khi tâm lý tiêu dùng và kinh doanh cũng yếu.
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong quý II/2024, xuất khẩu cao su của Việt Nam đạt 311,55 nghìn tấn, trị giá 499,17 triệu USD, giảm 24,8% về lượng và giảm 17,8% về trị giá so với quý I/2024; So với quý II/2023 giảm 19,1% về lượng và giảm 3,8% về trị giá.
Về thị trường xuất khẩu, trong quý II/2024, cao su của Việt Nam chủ yếu được xuất khẩu sang khu vực châu Á, chiếm 88,5% về lượng và chiếm 87,44% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su của cả nước. Quý II/2024, xuất khẩu cao su sang khu vực châu Á đạt 275,74 nghìn tấn, trị giá 436,47 triệu USD, giảm 23,9% về lượng và giảm 16,9% về trị giá so với quý I/2024; So với quý II/2023 giảm 20,8% về lượng và giảm 6,4% về trị giá.
Quý II/2024, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam, chiếm 64,63% về lượng và 62,06% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su của cả nước, đạt 201,34 nghìn tấn, trị giá 309,76 triệu USD, giảm 30,1% về lượng và giảm 24% về trị giá so với quý I/2024; So với quý II/2023 giảm 30,5% về lượng và giảm 19,2% về trị giá.
Tiếp theo là xuất khẩu tới thị trường ́n Độ chiếm 9,32% về lượng và chiếm 9,8% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su của cả nước, đạt 29,02 nghìn tấn, trị giá 48,91 triệu USD, tăng 0,1% về lượng và tăng 8,3% về trị giá so với quý I/2024; So với quý II/2023 tăng 4,1% về lượng và tăng 27% về trị giá.
Cũng trong quý II/2024, hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (HS 400280) vẫn là mặt hàng được xuất khẩu nhiều nhất, chiếm 51,4% về lượng và chiếm 51,25% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su của cả nước, với 160,15 nghìn tấn, trị giá 255,82 triệu USD, giảm 32,2% về lượng và giảm 25,8% về trị giá so với quý I/2024; So với quý II/2023 giảm 34,9% về lượng và giảm 23,7% về trị giá. Trong đó, xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 99,69% về lượng và chiếm 99,24% về trị giá trong tổng xuất khẩu hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp của cả nước, với 159,65 nghìn tấn, trị giá 253,88 triệu USD, giảm 35% về lượng và giảm 24% về trị giá so với quý II/2023.
Giá bình quân xuất khẩu phần lớn các chủng loại cao su đều tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2023 như: RSS1 tăng 38,4%; RSS3 tăng 32,4%; Latex tăng 30,6%; Skim block tăng 29,4%; SVR 10 tăng 26,2%; SVR CV50 tăng 26%; SVR 3L tăng 24%; SVR CV60 tăng 22,7%...