Thứ năm, 03/07/2025 00:00 (GMT+7)

Xây dựng khung pháp lý trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất

Thiên Trường

Việt Nam đã sớm nhận diện vai trò trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất - EPR và từng bước cụ thể hóa trong hệ thống pháp luật. Tuy nhiên, việc triển khai thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc, đặt ra yêu cầu cấp thiết về một khung pháp lý rõ ràng, minh bạch và có tính khuyến khích cao.

 

Ảnh minh họa
Ảnh minh họa

 

EPR là một công cụ chính sách đột phá, góp phần định hình lại mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng có trách nhiệm hơn. Nguyên tắc cốt lõi của EPR là chuyển gánh nặng quản lý chất thải từ chính quyền địa phương sang chính các nhà sản xuất. Cụ thể, EPR khuyến khích việc quản lý vật liệu theo phương thức tuần hoàn, trong đó các sản phẩm và bao bì sau khi sử dụng sẽ được thu hồi, tái chế, tái sử dụng để tạo ra các sản phẩm mới, thay vì bị đưa đến các bãi chôn lấp.

 

Việc chuyển hướng dòng chất thải này mang lại lợi ích kép: một mặt giúp giảm áp lực đáng kể lên môi trường, hạn chế ô nhiễm đất, nước, không khí; mặt khác lại mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt thông qua việc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và tạo ra giá trị từ chất thải.

 

 Hơn nữa, EPR còn giúp thay đổi nhận thức trong xã hội, từ tư duy thải bỏ sang tái sử dụng, đồng thời kích thích sự đổi mới trong thiết kế sản phẩm và quy trình sản xuất để tăng cường khả năng tái chế.

 

Việt Nam đã tiếp cận chính sách EPR từ khá sớm, bắt đầu từ Nghị quyết 41 của Bộ Chính trị năm 2004. Quá trình này tiếp tục được cụ thể hóa qua các Luật Bảo vệ môi trường các năm 2005, 2014 và đặc biệt là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Đây là một bước tiến quan trọng khi lần đầu tiên luật hóa quy định cụ thể về tỷ lệ tái chế bắt buộc và cơ chế đóng góp tài chính cho những sản phẩm, bao bì khó tái chế.

 

Mặc dù, có lịch sử tiếp cận EPR từ sớm, việc triển khai chính sách này trên thực tế vẫn gặp nhiều vướng mắc. Các quy định còn phân tán, thiếu đồng bộ giữa các văn bản pháp luật khác nhau, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong việc nắm bắt và thực hiện. Nhận thức và sự phối hợp giữa các bên liên quan bao gồm: nhà sản xuất, nhà tái chế, người tiêu dùng và cơ quan quản lý còn chưa thống nhất. Thêm vào đó, cơ chế thực thi lại chưa đủ mạnh, dẫn đến tình trạng chưa nghiêm túc tuân thủ.

 

Chính vì vậy, việc xây dựng một nghị định riêng về EPR là một đòi hỏi cấp thiết. Mục tiêu của nghị định này là nhằm hợp nhất tất cả các quy định liên quan đến EPR, thiết kế lại cơ chế tài chính một cách rõ ràng, tăng cường tính minh bạch và đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế, đặc biệt là kinh nghiệm từ các quốc gia phát triển đã triển khai EPR thành công.

 

Bộ Nông nghiệp và Môi trường hiện đang xây dựng Dự thảo Nghị định quy định về EPR (Dự thảo). Theo đó, Dự thảo đã quy định khá rõ ràng các đối tượng phải thực hiện trách nhiệm tái chế, thu gom, xử lý chất thải; lộ trình thực hiện theo từng nhóm sản phẩm, bao bì và quy định cụ thể về tỷ lệ, quy cách tái chế bắt buộc.

 

 Đồng thời, Dự thảo cũng xác định rõ một số nhóm đối tượng được miễn trừ theo nguyên tắc phù hợp với quy mô, năng lực và mức độ ảnh hưởng đến môi trường, nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

Về phương thức thực hiện, doanh nghiệp sẽ có sự linh hoạt khi được lựa chọn tự tổ chức việc tái chế thông qua các hình thức như tự thực hiện, thuê đơn vị tái chế, ủy quyền cho tổ chức trung gian, hoặc kết hợp các hình thức trên. Trường hợp không tổ chức tái chế, doanh nghiệp có thể lựa chọn đóng góp tài chính vào Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.

 

Tương tự, đối với trách nhiệm hỗ trợ xử lý chất thải, Dự thảo quy định rõ mức đóng góp tài chính, thời hạn và phương thức nộp; đồng thời đưa ra nguyên tắc phân bổ và sử dụng nguồn kinh phí này để đảm bảo minh bạch, công bằng, tránh thất thoát, lãng phí.

 

Mặc dù, Dự thảo đã có nhiều điểm tích cực, cộng đồng doanh nghiệp vẫn bày tỏ một số băn khoăn và đề xuất cần làm rõ để tránh gây khó khăn trong triển khai thực tế.

 

Đại diện Hiệp hội Doanh nghiệp Anh quốc tại Việt Nam (BritCham) cho rằng, trong Dự thảo vẫn thiếu cơ chế khuyến khích cụ thể cho việc sử dụng vật liệu tái chế, đặc biệt là nhựa tái chế trong bao bì. Nhiều doanh nghiệp đã tự nguyện sử dụng vật liệu tái chế, nhưng để khuyến khích toàn ngành công nghiệp tái chế phát triển, rất cần có chính sách ưu đãi rõ ràng, ví dụ như ưu đãi thuế, hỗ trợ tín dụng hoặc các chương trình trợ giá. Hiện tại, giá thành vật liệu tái chế (nhựa tái chế) vẫn cao hơn so với vật liệu nguyên sinh đây là một rào cản lớn đối với doanh nghiệp.

 

Ngoài ra, Điều 5 của Dự thảo quy định về tỷ lệ tái chế bắt buộc sau 3 năm tăng không quá 10%. Theo đại diện BritCham, dù một số ít doanh nghiệp đã đạt hoặc vượt tỉ lệ tái chế quy định, nhưng vấn đề sử dụng vật liệu tái chế trong bao bì đang gặp rất nhiều khó khăn vì giá thành cao so với vật liệu nguyên sinh.

 

Nếu không đánh giá được khả năng đáp ứng về kỹ thuật và năng lực của ngành tái chế trong nước thì việc tăng tỉ lệ tái chế bắt buộc có thể ảnh hưởng tiêu cực tới giá thành sản phẩm, thậm chí giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

 

Đóng góp vào Dự thảo, ông Hứa Phú Doãn, Phó Chủ tịch thường trực Hiệp hội Tái chế chất thải Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc có quy định tiêu chí cụ thể, rõ ràng khi lựa chọn đơn vị tham gia tái chế chất thải. Trong đó, điều quan trọng là năng lực tái chế và công nghệ tái chế.

 

Ông Doãn cảnh báo, không thể vì giá thấp mà công nghệ tái chế lạc hậu lại được chọn. Đặc biệt, trong các thủ tục hành chính, không dùng cơ chế xin - cho và cũng không dùng cơ chế chia đều. Việc sử dụng kinh phí mà doanh nghiệp nộp vào để hỗ trợ hoạt động tái chế cần được giám sát cụ thể và minh bạch.

 

Theo đó ông Doãn đề xuất thêm trong quá trình triển khai hoạt động tái chế, ngay từ đầu phải số hóa và công khai minh bạch trên Cổng điện tử để mọi người đều thấy được hồ sơ được xử lý, đơn vị tái chế hoạt động ra sao, dòng tiền đi như thế nào.

 

Như vậy, các nhà sản xuất mới thấy được trách nhiệm của mình được thực thi nghiêm túc và đầy đủ. Sự minh bạch này là chìa khóa để xây dựng lòng tin, đảm bảo hiệu quả của chính sách và khuyến khích sự tham gia tích cực từ phía doanh nghiệp.

 

Cộng đồng doanh nghiệp kỳ vọng rằng Nghị định về EPR, khi được ban hành, sẽ thực sự trở thành công cụ điều phối hành vi sản xuất - tiêu dùng một cách hiệu quả và công bằng. EPR không chỉ đơn thuần là việc tuân thủ các quy định pháp luật, mà còn là chìa khóa để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế tuần hoàn, giảm thiểu lượng rác thải ra môi trường, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và hướng tới một mô hình tăng trưởng xanh, bền vững.

 

Tuy nhiên, để điều đó thành hiện thực, Nhà nước cần không chỉ hoàn thiện khung pháp lý một cách chặt chẽ và minh bạch, mà còn phải có các chính sách hỗ trợ cụ thể cho doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa.

 

Những hỗ trợ này có thể bao gồm tiếp cận công nghệ tái chế hiện đại, các chương trình đào tạo nâng cao năng lực quản lý môi trường, và các cơ chế khuyến khích tài chính để thúc đẩy sự thay đổi tư duy trong quản trị môi trường. Chỉ khi đó, EPR mới thực sự phát huy tối đa hiệu quả, trở thành động lực mạnh mẽ cho sự phát triển bền vững của Việt Nam.

 TP. HCM: Áp dụng các công nghệ sản xuất “xanh, sạch” theo hướng nông nghiệp hữu cơ

TP. HCM: Áp dụng các công nghệ sản xuất “xanh, sạch” theo hướng nông nghiệp hữu cơ

TP. HCM đặt mục tiêu giai đoạn 2026 - 2030, diện tích trồng trọt, nuôi thủy sản, số cơ sở chăn nuôi được chứng nhận thực hành nông nghiệp tốt - GAP tăng 15%/năm. Duy trì 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản được chứng nhận đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm hoặc ký cam kết tuân thủ quy định an toàn thực phẩm.
Công nghiệp Việt Nam hướng đến sản xuất xanh, phát triển bền vững

Công nghiệp Việt Nam hướng đến sản xuất xanh, phát triển bền vững

Nhiều năm trở lại đây, công nghiệp Việt Nam đang dần hướng đến phương án sản xuất xanh, phát triển bền vững, đảm bảo không gây ô nhiễm môi trường, tiết kiệm chi phí và đem lại hiệu quả cao.
AkzoNobel đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất xanh tại Việt Nam

AkzoNobel đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất xanh tại Việt Nam

DNĐT - AkzoNobel, công ty chuyên về sơn và chất phủ, vừa công bố sẽ mở rộng nhà máy của công ty tại khu công nghiệp Amata (Đồng Nai) theo chiến lược đầu tư nâng cao công nghệ và năng lực sản xuất.