hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Nhờ khống chế tốt được đại dịch Covid-19, Việt Nam đã vượt qua được cú sốc kinh tế lớn nhất trong vòng 35 năm qua và được dự báo tăng trưởng GDP đạt 2,8%.

Với làn sóng dịch bệnh đang quay trở lại, ông Jacques Morisset – Chuyên gia kinh tế trưởng World Bank tại Việt Nam đã trình bày trong báo cáo về tình trạng bình thường mới của Việt nam theo 4 xu hướng:
Một là vai trò mới của nhà nước. Theo ông, Chính Phủ Việt Nam cần tìm ra động lực tăng trưởng trong một vài năm tới bằng cách chi tiêu ngân sách nhiều hơn và tốt hơn để tăng khả năng cung cầu trong nền kinh tế.
Hai là nền kinh tế không có sự tiếp xúc trực tiếp sẽ trỗi dậy. Việt Nam cần phải phát triển về thương mại điện tử, cần phải có hệ thống và nền tảng thương mại trực tuyến an toàn hơn, hiệu quả và điều quan trọng là Chính Phủ cần phải số hóa nhiều ngành để nâng cao hoạt động hiệu suất của chính phủ và bên cạnh đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp chuyển đổi để nâng cao hiệu suất cũng như năng suất kinh doanh.
Ba là nâng tầm vị thế của mình trên nền kinh tế thế giới. Việt Nam chống chọi với Covid-19 rất tốt, nên coi đó là công cụ quảng bá hình ảnh Việt Nam để thu hút nhiều nhà đầu tư trên thế giới. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần phải có những thận trọng khi mở cửa vì cứu sống nhân mạng người quan trọng hơn là cứu giúp nền kinh tế, cần phải làm 2 việc song hành với nhau.
Cuối cùng, Việt Nam thận trọng theo dõi tình trạng bất bình đẳng mới. Covid đã tạo ra sự bất bình đẳng mới, trong báo cáo Covid ảnh hưởng tới 75% lực lượng lao động của Việt Nam. Những tác động của Covid-19 rất khác biệt theo địa bàn, theo ngành nghề và theo khu vực đã tạo ra sự bất bình đẳng. Khi thoát khỏi Covid-19, một vài ngành nghề lĩnh vực sẽ thuận lợi hơn, sẽ khó khăn hơn và người nghèo mới sẽ không giống người nghèo cũ, vì vậy Chính phủ Việt Nam cần có những chính sách quan tâm hơn về vấn đề bất bình đẳng mới.
Đầu tiên, để hiểu rõ hơn về tình hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam hiện nay, Anh Trần Toàn Thắng – Trưởng ban dự báo kinh tế ngành và doanh nghiệp, Trung tâm Thông tin và Dự báo Kinh tế Xã hội Quốc gia đã có những đánh giá trong buổi báo cáo: “Covid tác động đến mọi mặt khiến tăng trưởng giảm nhanh, xuất khẩu giảm nhanh và điều quan trọng nhất là ảnh hưởng kỳ vọng về tăng trưởng của Việt Nam trong những năm tới. Tốc độ ngắn hạn làm khâu xuất khẩu của nền kinh tế Việt Nam bị thu hẹp đáng kể, như vậy sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước, dài hạn hơn là ảnh hưởng đến thu nhập của người dân, đến người tiêu dùng, và dài hạn hơn nữa là liên quan đến sự dịch chuyển chuỗi cung ứng trên toàn cầu, có thể ảnh hưởng đến FDI của Việt Nam. Nước ta hiện nay cũng đang đều đẩy mạnh cạnh thanh để thu hút được sự dịch chuyển chuỗi giá trị từ Trung Quốc và hy vọng có thể cải thiện được tình hình tăng trưởng kinh tế trong các năm tới”.
Còn theo đánh giá của World Bank, trong tình trạng dịch bệnh, Việt Nam bị ảnh hưởng về y tế thì nhỏ nhưng về kinh tế thì lớn. Tốc độ tăng trưởng nền kinh tế đi từ 7% cuối năm 2019 xuống còn khoảng 0,36% vào Quý II năm 2020. Đây là một cú sốc kinh tế lớn trong 35 năm qua.
Tuy nhiên, Việt Nam đã chống đỡ tốt cú sốc này và đã có nhiều sự chuyển biến tích cực trong nền kinh tế. GDP đã được dự báo sẽ tăng 2,8% – cao thứ 5 trên thế giới. Tốc độ phục hồi được kỳ vọng tăng tốc nửa cuối năm. Sang năm 2021 và 2022, tăng trưởng có thể lên 6,8% và 6,5%.
Theo dự báo của World Bank, lạm phát năm nay dự kiến khoảng 3,9%; gần gấp đôi năm ngoái. Cán cân vãng lai năm 2020 vẫn dương. Bội chi ngân sách tạm thời xấu đi và nợ công trên GDP tăng lên 56,1%.
World Bank cho rằng Việt Nam có thể bị mắc bẫy kinh tế khi mà tốc độ tăng trưởng của Việt Nam chủ yếu dựa vào kinh tế đối ngoại và tiêu dùng trong nước. Thật sự rất khó để có thể phục hồi được hai yếu tố đó, nhất là khi làn sóng dịch Covid vẫn đang tiếp diễn. Cả thế giới đang trong tình trạng khủng hoảng vì vậy nhu cầu tiêu dùng sản phẩm của Việt Nam với người tiêu dùng nước ngoài là rất thấp. Hơn nữa, với tiêu dùng trong nước cũng tương tự khi hầu hết người dân Việt Nam đều ngại rủi ro, nên họ sẽ tiết kiệm nhiều hơn đầu tư, vì vậy tốc độ tăng trưởng của tiêu dùng trong nước cũng khó mà nhanh như những năm trước đây.
Linh Chi – Trần Thùy