hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Sau 8 tháng năm 2026, kinh tế Vĩnh Long duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp thành lập mới vượt kế hoạch cả năm. Công nghiệp, thương mại, dịch vụ, du lịch khởi sắc, song đầu tư công, hạ tầng cụm công nghiệp và nông nghiệp còn nhiều điểm nghẽn.
Trong 6 tháng đầu năm, GRDP Vĩnh Long ước tăng 6,41% so với cùng kỳ. Riêng quý II, tốc độ tăng đạt 7,38%, cao hơn quý I 1,91 điểm phần trăm, giúp tỉnh vươn lên vị trí thứ 26 cả nước về tốc độ tăng trưởng, cải thiện 8 bậc so với quý I.
Công nghiệp tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong đà tăng trưởng. Ông Tiêu Thanh Tân, Phó Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Vĩnh Long, cho biết công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là động lực tăng trưởng chính của tỉnh trong 8 tháng đầu năm, với IIP toàn ngành tăng 9,45% và riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,76% so với cùng kỳ. Sự cải thiện của công nghiệp cùng với tăng trưởng dịch vụ đang thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng nông, lâm nghiệp và thủy sản, tăng tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và dịch vụ.

Sức mua nội địa cũng tăng mạnh. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt gần 134.414 tỷ đồng, tăng 19,34% so với cùng kỳ. Du lịch đón 4,33 triệu lượt khách, tăng 12,8%, với tổng thu hơn 4.000 tỷ đồng, tăng 28,30%. Xuất khẩu đạt 2,82 tỷ USD, tăng 17,07% và hoàn thành 68,98% kế hoạch năm.
Các hoạt động này tạo thêm nguồn thu cho ngân sách. Trong 8 tháng, thu ngân sách nhà nước đạt hơn 17.295 tỷ đồng, bằng 76,6% dự toán; thu nội địa đạt hơn 15.937 tỷ đồng, hoàn thành 75,17% dự toán.
Kết quả nổi bật nhất nằm ở khu vực doanh nghiệp. Đến ngày 27/8, Vĩnh Long có 2.076 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 10,12% so với cùng kỳ và vượt 9,26% kế hoạch cả năm. Tổng vốn đăng ký đạt hơn 8.308 tỷ đồng.
Số doanh nghiệp thành lập mới vượt kế hoạch khi năm chưa kết thúc cho thấy hoạt động kinh doanh đang duy trì sức hút. Toàn tỉnh hiện có 13.412 doanh nghiệp đang hoạt động, với tổng vốn đăng ký 197.321 tỷ đồng. Đây là lực lượng trực tiếp tạo việc làm, mở rộng sản xuất và thúc đẩy sức mua trên địa bàn.
Thu hút đầu tư cũng có thêm kết quả khi tỉnh cấp mới 12 dự án, gồm 9 dự án trong nước với tổng vốn 1.038 tỷ đồng và 3 dự án FDI với 1,63 triệu USD. Lũy kế, Vĩnh Long có 183 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn 5,934 tỷ USD và 772 dự án trong nước với tổng vốn hơn 264.000 tỷ đồng.
Đà tăng trưởng hiện nay vẫn chịu sức ép từ những điểm nghẽn về hạ tầng và đầu tư. Tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công đã cải thiện nhưng vẫn chậm và thấp hơn mức bình quân cả nước. Khối lượng giải phóng mặt bằng lớn, thiếu nhân lực, một số vướng mắc pháp lý và tranh chấp phát sinh đang làm chậm tiến độ dự án, trong khi nguồn cung cát, đá xây dựng có thời điểm thiếu hụt.

Đây là vấn đề cần được xử lý nhanh bởi vốn đầu tư công chỉ tạo ra tác động kinh tế khi được chuyển thành công trình, hạ tầng và năng lực sản xuất thực tế. Nếu giải ngân chậm, nguồn lực bị kéo dài thời gian nằm chờ, đồng thời làm giảm khả năng tạo thêm động lực tăng trưởng trong năm.
Tại các cụm công nghiệp Long Phước, Lưu Nghiệp Anh, Tân Ngại và Thị trấn - An Đức, tiến độ hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và thu hút nhà đầu tư thứ cấp chưa có đột phá. Trong bối cảnh công nghiệp chế biến, chế tạo đang tăng 9,76%, việc chậm hoàn thiện hạ tầng sẽ hạn chế khả năng tiếp nhận dự án mới và mở rộng quy mô sản xuất.
Lĩnh vực nông nghiệp của tỉnh hiện cũng đang đối mặt với thách thức khi thời tiết cực đoan, thiên tai, sạt lở và chi phí vật tư, con giống, thức ăn chăn nuôi tiếp tục gây áp lực lên sản xuất. Khu vực này cần nâng khả năng thích ứng để hạn chế tác động của thời tiết và biến động chi phí đầu vào.
Với những kết quả đạt được sau 8 tháng, Vĩnh Long đã có nền tảng khá rõ để hoàn thành các mục tiêu năm 2026. Tuy nhiên, dư địa tăng trưởng trong những tháng cuối năm phụ thuộc lớn vào khả năng tháo gỡ các điểm nghẽn hiện hữu. Đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, hoàn thiện hạ tầng cụm công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng hoạt động và nâng sức chống chịu của nông nghiệp sẽ quyết định khả năng chuyển tăng trưởng hiện tại thành kết quả bền vững hơn.