hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Tám tháng đầu năm 2026, kim ngạch thương mại Việt Nam - Ấn Độ đạt 13,4 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm 2025. Đà tăng trưởng này đang mở thêm dư địa để doanh nghiệp hai nước mở rộng hợp tác, hướng tới mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030.
Quan hệ kinh tế Việt Nam - Ấn Độ đang mở rộng nhanh, với nền tảng chính trị được nâng lên và nhu cầu liên kết sản xuất, thương mại ngày càng lớn. Hai nền kinh tế có tính bổ trợ cao trong các lĩnh vực công nghệ, điện tử, máy móc, thiết bị, dệt may, nông thủy sản và nguyên liệu sản xuất.
Kim ngạch thương mại song phương 8 tháng đầu năm 2026 đạt 13,4 tỷ USD, tăng 25% so với cùng kỳ năm trước. Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ 8,05 tỷ USD, tăng 16,9%; nhập khẩu đạt 5,37 tỷ USD, tăng 39,5%.
Trong 10 năm, quy mô thương mại hai nước tăng gấp 3 lần, từ 5,4 tỷ USD năm 2016 lên 16,4 tỷ USD năm 2025. Riêng năm 2025, Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ 10,3 tỷ USD và nhập khẩu 6,1 tỷ USD.
Đà tăng trưởng này tạo nền tảng để hai nước hướng tới mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030. Để đạt mục tiêu, doanh nghiệp cần mở rộng liên kết chuỗi cung ứng và khai thác sâu hơn những lĩnh vực hai bên có lợi thế.
Ấn Độ hiện là đối tác thương mại lớn thứ 8 của Việt Nam, chiếm khoảng 80% tổng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và khu vực Nam Á. Việt Nam là đối tác thương mại lớn thứ 5 của Ấn Độ trong ASEAN.

Việc hai nước nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Ấn Độ của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vào tháng 5/2026 tạo thêm động lực cho hợp tác kinh tế. Các biên bản hợp tác kinh tế - thương mại tiếp tục mở rộng cơ sở để doanh nghiệp hai bên kết nối và triển khai các mô hình hợp tác mới.
Cơ cấu thương mại phản ánh rõ tính bổ trợ giữa hai nền kinh tế. Hơn 70% hàng hóa Việt Nam xuất khẩu sang Ấn Độ thuộc nhóm chế biến, chế tạo, tập trung vào điện thoại và linh kiện, máy vi tính và sản phẩm điện tử, máy móc, thiết bị và phụ tùng. Năm 2025, điện thoại và linh kiện đạt 2,1 tỷ USD; máy vi tính và sản phẩm điện tử đạt 1,7 tỷ USD; máy móc, thiết bị và phụ tùng đạt trên 1 tỷ USD.
Việt Nam cũng xuất khẩu sang Ấn Độ các mặt hàng nông thủy sản như cao su, hạt tiêu; sắt thép và sản phẩm từ sắt thép; cùng các sản phẩm dệt may hoàn thiện.
Ở chiều nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu nhập từ Ấn Độ các nguyên liệu và sản phẩm phục vụ sản xuất, gia công xuất khẩu và tiêu dùng trong nước. Các nhóm hàng chính gồm sắt thép, nguyên phụ liệu dệt may, chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, nguyên liệu thủy sản và dược phẩm.
Cơ cấu xuất nhập khẩu đang tạo liên kết giữa hai nền kinh tế theo chuỗi giá trị. Điện thoại di động, linh kiện, máy móc và thiết bị là những nhóm hàng có khả năng kết nối vào các chuỗi sản xuất chung giữa Việt Nam và Ấn Độ.
Dệt may là một hướng hợp tác đáng chú ý. Nguồn nguyên liệu của Ấn Độ kết hợp với năng lực gia công, xuất khẩu của Việt Nam tạo điều kiện hình thành chuỗi cung ứng liên kết sâu hơn. Các tổ hợp, khu công nghiệp dệt may tích hợp tại Ấn Độ có thể giúp doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận trực tiếp nguồn nguyên liệu, giảm chi phí logistics, đáp ứng quy tắc xuất xứ và hình thành chuỗi cung ứng khép kín.
Dư địa hợp tác giữa Việt Nam và Ấn Độ còn lớn. Để khai thác hiệu quả thị trường, doanh nghiệp cần chủ động xử lý các rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật, quy định chất lượng và yêu cầu riêng của từng nhóm hàng.
Hai nước chưa ký hiệp định thương mại song phương. Doanh nghiệp Việt Nam vì vậy phải đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của thị trường Ấn Độ. Với hàng công nghiệp, chứng nhận chất lượng BIS là yêu cầu đáng lưu ý. Với nông sản, thực phẩm, doanh nghiệp phải đáp ứng các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm.
Các yêu cầu này tạo áp lực lớn hơn đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khả năng tiếp cận thị trường phụ thuộc vào năng lực cập nhật quy định, kiểm soát chất lượng và tổ chức sản xuất theo yêu cầu của đối tác. Việc chuẩn hóa quy trình ngay từ khâu sản xuất sẽ giúp doanh nghiệp giảm rủi ro khi đưa hàng vào thị trường Ấn Độ.

Cùng với việc đáp ứng tiêu chuẩn, doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tận dụng hiệu ứng lan tỏa từ các doanh nghiệp lớn. Sự hiện diện của những doanh nghiệp đầu tàu đang tạo thêm điều kiện để các doanh nghiệp khác tìm kiếm đối tác, tham gia chuỗi cung ứng và từng bước tiếp cận thị trường. Chủ động kết nối với các doanh nghiệp lớn và tham gia hệ sinh thái đầu tư là hướng đi giúp SMEs giảm rủi ro khi mở rộng hoạt động tại Ấn Độ.
Doanh nghiệp cũng cần thay đổi cách tiếp cận thị trường, từ xuất khẩu sản phẩm đơn lẻ sang tham gia sâu vào chuỗi giá trị. Điện thoại di động, linh kiện, máy vi tính, máy móc và thiết bị đang là những nhóm hàng có khả năng kết nối sản xuất giữa hai nước. Trong dệt may, mô hình hợp tác tích hợp mở ra khả năng liên kết từ nguồn nguyên liệu, sản xuất đến xuất khẩu.
Với nhóm nông thủy sản và vật liệu, cao su, hạt tiêu, sắt thép và các sản phẩm chế tạo từ sắt thép còn nhiều dư địa để mở rộng. Ở chiều nhập khẩu, doanh nghiệp Việt Nam có thể đa dạng hóa nguồn cung nguyên liệu từ Ấn Độ, tập trung vào nguyên phụ liệu dệt may, chất dẻo nguyên liệu, hóa chất, sắt thép và dược phẩm.
Kết nối trực tiếp với đối tác Ấn Độ cũng cần được đẩy mạnh. Hội chợ, triển lãm và các diễn đàn chuyên ngành tạo điều kiện để doanh nghiệp tìm kiếm đối tác, cập nhật yêu cầu thị trường và xây dựng kế hoạch kinh doanh dài hạn.
Mục tiêu thương mại song phương 25 tỷ USD vào năm 2030 đặt ra yêu cầu nâng chất lượng hợp tác. Tăng kim ngạch cần đi cùng với mở rộng liên kết sản xuất, nâng tỷ lệ chế biến sâu và tăng mức độ tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng.
Với kim ngạch thương mại đạt 13,4 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2026 và cơ cấu hàng hóa có tính bổ trợ cao, Việt Nam và Ấn Độ đang có nền tảng để mở rộng hợp tác. Doanh nghiệp cần tập trung vào ba hướng: nâng năng lực đáp ứng tiêu chuẩn, phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao và mở rộng liên kết sản xuất. Đây là những yếu tố then chốt để tiến tới mục tiêu 25 tỷ USD vào năm 2030.