Thứ ba, 04/04/2023 00:00 (GMT+7)

Triển vọng kinh tế năm 2023 và tác động tới ngành dệt may

  TS.Nguyễn Minh Phong

 Theo dự báo mới nhất ngày 10/1/2023 của WB, tăng trưởng GDP toàn cầu năm 2023 là 1,7%, năm 2024 là 2,7% và tăng trưởng trung bình cho giai đoạn 2020-2024 sẽ ở mức dưới 2% - tốc độ chậm nhất kể từ năm 1960.

 

Điểm nhấn dự báo tình hình kinh tế năm 2023    

  
Cả kinh tế Mỹ, khu vực đồng euro và Trung Quốc đều đang trải qua thời kỳ suy yếu rõ rệt, tương ứng các mức tăng trưởng của Mỹ chỉ đạt 0,5% GDP, khu vực đồng tiền chung euro là 0% GDP và Trung Quốc là 4,3% GDP. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, vốn đóng góp 35% GDP của thế giới, sẽ dẫn dắt tăng trưởng kinh tế toàn cầu năm 2023…


Trước đó, Quỹ Tiền tệ thế giới (IMF) cũng cho rằng, tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ giảm xuống dưới mức 2% và hơn 1/3 nền kinh tế thế giới sẽ rơi vào suy thoái. Ngay cả những quốc gia không bị suy thoái, hàng trăm triệu người cũng cảm thấy giống như suy thoái. Lạm phát toàn cầu sẽ đạt 6,5% vào năm 2023 và 4,1% vào năm 2024. Các nền kinh tế phát triển chỉ tăng trưởng 1%. Đức, Anh và Italia sẽ tăng trưởng âm. Trung Quốc tăng trưởng 4,4%. Các nền kinh tế đang trỗi dậy giữ được tăng trưởng năm 2022 và 2023 đều ở mức 3,7%. Ấn Độ sẽ tăng trưởng 6,1%; Thổ Nhĩ Kỳ tăng 3% GDP; Nga tiếp tục tăng trưởng âm 2,3%.

 

Thương mại hàng hóa toàn cầu chỉ tăng 1%  vào năm 2023 so với mức trên 3% năm 2022. Đặc biệt, triển vọng FDI toàn cầu khá ảm đạm và kinh tế thế giới tiếp tục bị phân mảnh thành các khối địa chính trị với các tiêu chuẩn về thương mại và công nghệ, hệ thống thanh toán và tiền tệ, dự trữ khác nhau và thiếu sự phối hợp đa phương giữa các nền kinh tế lớn sẽ gây ra nhiều biến động, kinh tế toàn cầu bị tổn thất lớn về mặt hiệu quả trong dài hạn. 


Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), lạm phát của các nước G20 vào khoảng 6,6%. Chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ tiếp tục duy trì trong suốt năm 2023. Các điều kiện tài chính thắt chặt và sự không chắc chắn của nhà đầu tư tăng cao, dù một số lĩnh vực năng lượng, môi trường, lương thực và M&A vẫn có nhiều tiềm năng đầu tư lớn trong tương lai. Việc tăng chi phí đi vay sẽ tạo áp lực lên dự trữ quốc tế và các khoản nợ công cao, thu hẹp tỷ suất lợi nhuận doanh nghiệp và gia tăng áp lực thị trường nhà ở cả về giá cả và về sức thanh khoản. Theo Cơ quan Năng lượng quốc tế, thị trường năng lượng có thể thắt chặt hơn vào năm 2023, giá khó tăng thêm nữa, dù vẫn tác động tiêu cực tới tăng trưởng và lạm phát.


Về tổng thể, dự báo năm 2023 là năm kinh tế thế giới có nhiều khó khăn hơn năm 2022, gắn với áp lực lạm phát, nợ công, nợ xấu cao, trong khi suy giảm tổng cầu tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự tiếp tục đứt gãy nhiều chuỗi kinh tế và thị trường thương mại truyền thống ở châu Âu; đặc biệt, thị trường năng lượng vẫn diễn biến bất thường và vòng xoáy của khủng hoảng nợ và thu hẹp sản xuất, tăng sa thải lao động, gia tăng các vụ vỡ nợ doanh nghiệp…sẽ tạo nhiều tình huống khó lường cho nhiều nước cả phát triển và đang phát triển. Thậm chí, không ít quốc gia đối mặt với áp lực ngày càng tăng về cuộc khủng hoảng nợ, tăng trưởng âm và khó tìm điểm cân bằng giữa tăng mạnh lãi suất để kiềm chế lạm phát có thể gây ra suy thoái kinh tế toàn cầu, với để lạm phát tiếp tục tăng cao khiến bất ổn kinh tế trở nên tồi tệ hơn. 


Ngoài ra, sự mở cửa biên giới trở lại của Trung Quốc từ ngày 08/01/2023 vừa tạo nhiều động lực và kỳ vọng tích cực về khôi phục các chuỗi cung ứng và thị trường quốc tế, vừa đặt ra không ít quan ngại về sự gia tăng các động thái phức tạp của dịch bệnh Covid-19 với các biến chủng mới nguy hại kèm theo sự gia tăng dịch chuyển lao động và du khách đi lại giữa Trung Quốc với các nước khác trong thời gian tới, trong đó có Việt Nam…


Triển vọng phát triển kinh tế năm 2023 của Việt Nam gắn với những khó khăn chung của thế giới và những điều kiện cụ thể trong nước, đặc biệt là sự nỗ lực của cộng đồng doanh nghiệp và sự vào cuộc đồng bộ, nhịp nhàng, “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, hành động và quyết liệt và thực chất của cả hệ thống chính trị…


 Với phương châm điều hành: “Đoàn kết, kỷ cương, bản lĩnh linh hoạt, đổi mới sáng tạo, kịp thời, hiệu quả”, Việt Nam tự tin vượt qua các thách thức năm 2023 trên cơ sở tiếp tục phát huy đà phục hồi và các thành tựu tích lũy được của năm 2022, sự cải thiện về quy mô nền kinh tế, Hệ số tín nhiệm quốc gia dài hạn, Thương hiệu Quốc gia và Chỉ số sẵn sàng trí tuệ nhân tạo (AI) của chính phủ (Government AI Readiness Index); đây mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án quan trọng quốc gia, các chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, cũng như nâng cao chất lượng năng lực, hiệu lực và hiệu quả bộ máy quản lý nhà nước các cấp, ngành trong dự báo, chủ động kịch bản cho những tình huống mới; phát triển liên kết kinh tế vùng; đồng bộ và lành mạnh hóa các thị trường; giảm thiểu rủi ro và giữ vững lòng tin chính trị, đầu tư, tiêu dùng…cả cấp vĩ mô và vi mô, trước mắt và dài hạn.


Những tác động và triển vọng ngành dệt may năm 2023


Theo báo cáo của WTO, thị phần của dệt may Việt Nam chiếm khoảng 5,7% thị phần thế giới; xuất khẩu dệt may của Việt Nam đứng thứ 2 thế giới năm 2020, thứ 3 thế giới năm 2021 (sau Trung Quốc và Bangladesh). Theo Tập đoàn Dệt May Việt Nam, xuất khẩu năm 2022 của ngành dệt may Việt Nam ước đạt 44-44,5 tỷ USD. Hàng đệt may Việt Nam đã xuất khẩu tới 66 nước và vùng lãnh thổ, với nhiều thị trường lớn như Hoa Kỳ, EU, các nước khu vực CPTPP, Hàn Quốc và Trung Quốc.


Trong bối cảnh chung nói trên, ngành dệt may Việt Nam chịu tác động không nhỏ, cả trực tiếp và gián tiếp; Ngoài những khó khăn về lãi suất tín dụng, giá năng lượng, chi phí nguyên vật liệu tăng cao và đứt gãy nguồn cung ứng, ngành dệt may còn phải đối mặt với xu hướng giảm mức tiêu dùng các sản phẩm quần áo và giày dép do nguồn thu nhập cá nhân sụt giảm. Nhu cầu tại các thị trường xuất khẩu chậm lại, hàng tồn kho các sản phẩm may mặc của các nhà bán lẻ và các nhãn hàng tiếp tục ở mức cao và đơn hàng hạ nhiệt nhanh hơn dự kiến, trong khi lượng đặt hàng mới chưa điều chỉnh giảm kịp, đang và sẽ tiếp tục tạo sức ép lên mục tiêu xuất khẩu ngành dệt may 45 - 47 tỷ USD năm 2023.

       

   Tăng trưởng xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2011-2022
   Tăng trưởng xuất khẩu dệt may Việt Nam giai đoạn 2011-2022

 

Theo Vinatex,  xuất khẩu dệt may của Việt Nam năm 2023 có thể diễn ra theo 3 kịch bản: 1). Kịch bản tốt: hết quý 2/2023, kinh tế vĩ mô thế giới ổn định, xung đột chính trị kết thúc thì tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu năm 2023 sẽ khoảng từ 4-5% so với năm 2022; Kịch bản trung bình, tới quý 3/2023 nếu nhiều yếu tố bất định hơn, chưa rõ ràng về giảm lạm phát, lãi suất vẫn tăng, thì xuất khẩu dệt may sẽ duy trì ngang với năm 2022; Kịch bản xấu, nếu kinh tế thế giới suy thoái, kim ngạch xuất khẩu năm 2023 có thể thấp hơn khoảng 5% so với năm 2022.

 

Việc xác định rõ những khó khăn giúp Vinatex bước đi một cách chủ động hơn, vững vàng, sáng suốt và quyết tâm cao để linh hoạt phản ứng kịp thời và hiệu quả trước những “bất định” thị trường, đảm bảo thu nhập cho người lao động
Sự sụt giảm dần doanh số bán lẻ quần áo và giày dép tại các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam đã được ghi nhận rõ nét từ nửa cuối, nhất là từ tháng 10/2022.  Nếu trong 8 tháng năm 2022 xuất khẩu dệt may tăng 20% so cùng kỳ, đến tháng 9/2022 chỉ còn tăng 11%, và tháng 10, 12 thì quay đầu giảm lần lượt 4% và 10% so cùng kỳ. Nhiều doanh nghiệp ghi nhận sụt giảm đơn hàng mạnh tới trên 50%…

 

Riêng Tập đoàn Dệt May Việt Nam, dù kết quả sản xuất-kinh doanh với doanh thu hợp nhất cả năm 2022 ước đạt 19.535 tỷ đồng, tăng 15% so với cùng kỳ, đạt 108% kế hoạch; lợi nhuận hợp nhất ước đạt 1.090 tỷ đồng, vượt 14,6% kế hoạch, song, từ tháng 8/2022, thị trường có dấu hiệu xấu đi và từ tháng 9, thị trường dệt may đổi chiều đi xuống. Đặc biệt, trong những tháng đầu quý 4/2022, các doanh nghiệp rơi vào tình thế khó khăn khi thị trường sợi gần như không có thanh khoản, cầu trên thị trường may giảm mạnh, thông tin báo lỗ từ các đơn vị liên tục được đưa về, nhất là các đơn vị sợi. Hoạt động của một số đơn vị trong Tập đoàn chững lại. Vinatex đã bị lỗ ròng 5,2 tỷ trong quý 4/2022 và là quý lỗ đầu tiên của Tập đoàn kể từ khi cổ phần hóa năm 2015.


Theo Vinatex, năm 2022 tổng cầu dệt may thế giới giảm từ 5-6% so năm 2021 (từ 802 tỷ USD xuống 763-757 tỷ USD, về mức giữa năm 2020 và 2021), còn trong năm 2023 mức giảm dao động từ 6-11% so năm 2022 (từ 763-757 tỷ USD xuống 716-678 tỷ USD). Tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu dệt may Việt Nam ở thị trường Mỹ, Trung Quốc và Hàn Quốc giảm mạnh từ tháng 10/2022; thị trường EU và Nhật Bản vẫn giữ tỷ lệ tăng trưởng dương thấp hơn hẳn so với các tháng trước đó.


Về tổng thể, năm 2023 ngành dệt may Việt Nam vẫn đứng trước nhiều khó khăn thách thức khi phụ thuộc nhiều vào chi phí đầu vào, giá nhân công lao động và suy thoái kinh tế khiến nhu cầu suy giảm trên cả thị trường trong nước, lẫn các nước nhập khẩu lớn (Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc,…). Ngoài ra, trong bối cảnh tỷ giá leo thang, đồng tiền ở một số nước nhập khẩu đơn hàng lớn có xu thế mất giá cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động xuất khẩu ngành dệt may tại Việt Nam.


Để tháo gỡ các khó khăn trên, ngành dệt may đang nỗ lực đa dạng hóa thị trường và mặt hàng trên cơ sở nghiên cứu thị trường, khai thác các cơ hội từ các hiệp định thương mại thế hệ mới, đón bắt và xây dựng các chuỗi cung ứng mới dịch chuyển trong khu vực, nhận và triển khai nhiều đơn hàng nhỏ, nhiều mặt hàng, kỹ thuật khó; giảm nhập khẩu, tăng nội địa hóa nguyên phụ liệu trong nước từ mức hiện nay khoảng 49% lên mức 51 - 55% trong 2 năm tới.


Đồng thời, ngành cũng đang tích cực tham gia các chương trình phát triển bền vững, xanh hóa, quản trị số và kinh tế tuần hoàn; khuyến khích doanh nghiệp dệt may phát triển bán hàng theo thiết kế, sáng tạo, giảm thiểu làm hàng gia công cho đối tác; đẩy nhanh chuyển đổi từ sản phẩm gia công sang quản trị số, chuỗi cung ứng, tự chủ, bắt kịp xu thế xanh hóa, phát triển bền vững với những loại sợi mới từ cây gai, lông cừu...


Đặc biệt, mỗi doanh nghiệp cần xây dựng nhiều kịch bản thị trường và có giải pháp với từng trường hợp; rà soát các chiến lược về cơ cấu sản phẩm, giá cả, giảm chi phí và tăng hiệu quả, t và tập trung đầu tư cho người lao động, khai thác tốt các thị trường trong các Hiệp định thương mại tự do; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong xúc tiến thương mại nhằm giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí, nâng cao hiệu quả và tốc độ của hoạt động xúc tiến thương mại trong thời gian tới.