hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Việc sáp nhập TP.HCM với Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu tạo nên siêu đô thị công nghiệp khổng lồ, mở ra cơ hội vàng để Việt Nam nâng tầm công nghiệp hỗ trợ, tăng nội địa hóa và giảm phụ thuộc nhập khẩu. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tham vọng này, cần những giải pháp đột phá và sự chủ động từ doanh nghiệp.
Với tổng giá trị công nghiệp gần 930.000 tỷ đồng (chiếm hơn 25,52% cả nước), dân số hơn 14 triệu người, và tổng sản phẩm (GRDP) gần 24% GDP cả nước, khu vực này đang đứng trước cơ hội vàng để bứt phá, đặc biệt trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ (CNHT). Đây là một định hướng chiến lược nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư, tăng tỷ lệ nội địa hóa và giảm sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu.
Theo TS. Trương Minh Huy Vũ, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP. Hồ Chí Minh, lợi thế lớn nhất của TP. Hồ Chí Minh mở rộng là việc sở hữu lực lượng doanh nghiệp công nghiệp đông đảo và năng động nhất cả nước, với gần 45.000 doanh nghiệp công nghiệp (chiếm gần 28,4% số doanh nghiệp công nghiệp cả nước) tính đến cuối năm 2024.
Hơn nữa, việc gia tăng số lượng khu chế xuất và khu công nghiệp lên 66 khu với tổng diện tích hơn 27.000 ha (và quy hoạch 105 khu với hơn 49.000 ha đến năm 2050) củng cố vị thế của TP. Hồ Chí Minh như một trung tâm công nghiệp hàng đầu quốc gia. Không gian phát triển rộng lớn này tạo ra một nền tảng vững chắc để phát triển các chuỗi cung ứng công nghiệp liên vùng, vốn là xương sống của CNHT.
Mặc dù có tiềm năng to lớn, ông Võ Sơn Điền, Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp Hỗ trợ Bình Dương (Basi) thẳng thắn chỉ ra rằng CNHT tại khu vực này vẫn còn nhiều hạn chế. Nhiều doanh nghiệp sản xuất vẫn phụ thuộc nặng nề vào phụ tùng, linh kiện, vật liệu nhập khẩu, đặc biệt trong các ngành trọng yếu như cơ khí, điện tử, ô tô. Điều này khiến tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh và gia tăng giá trị.
Điển hình là ngành dệt may, ông Phạm Văn Việt, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Thời trang TP. Hồ Chí Minh, nhấn mạnh rằng dù xuất khẩu đạt 22 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2025, con số này không phản ánh đúng sức cạnh tranh nội tại vì hơn 60% giá trị đầu vào vẫn phải nhập khẩu. Điều này cho thấy sự cấp thiết của việc chuyển đổi từ vai trò gia công giá rẻ sang sản xuất sáng tạo có định hướng, tăng cường nội địa hóa để nâng cao giá trị gia tăng.
Để khắc phục những hạn chế và phát huy tối đa tiềm năng, các doanh nghiệp và chuyên gia đã đưa ra nhiều giải pháp chiến lược: Ban hành Nghị quyết riêng cho CNHT với việc đề xuất Sở Công Thương kiến nghị lãnh đạo TP. Hồ Chí Minh ban hành một Nghị quyết đặc thù, tạo động lực mạnh mẽ cho CNHT, đồng thời tiếp tục áp dụng Nghị quyết 09 hiện hành cho các doanh nghiệp sau sáp nhập.
Thành lập Quỹ phát triển CNHT - Một quỹ chuyên biệt sẽ hỗ trợ tài chính và đầu tư mồi cho các dự án trọng điểm trong lĩnh vực này, giải quyết nút thắt về vốn cho các doanh nghiệp CNHT còn non trẻ.
Thiết lập "lồng ấp" khởi nghiệp và trung tâm kiểm định chất lượng: Các "lồng ấp" sẽ ươm tạo các dự án CNHT tiềm năng, trong khi trung tâm kiểm định chất lượng chuẩn quốc tế sẽ đảm bảo sản phẩm đạt tiêu chuẩn cao, tăng khả năng tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.
Xây dựng cụm/khu công nghiệp đặc thù với ưu đãi hấp dẫn, các cụm công nghiệp này sẽ khuyến khích doanh nghiệp đồng thuận di dời, đồng thời tạo ra một hệ sinh thái tập trung cho CNHT.
Thúc đẩy ngành vật liệu cơ bản và doanh nghiệp đầu tàu, phát triển ngành vật liệu cơ bản trong nước là yếu tố cốt lõi để tăng tỷ lệ nội địa hóa. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp lớn nội địa dẫn dắt, hình thành chuỗi cung ứng vững chắc.
Riêng đối với ngành dệt may, ông Phạm Văn Việt đề xuất xây dựng “hành lang công nghiệp xanh tích hợp” từ Dĩ An đến Nhà Bè, kết nối cảng Cái Mép. Hành lang này sẽ liên kết toàn bộ chuỗi sợi - dệt - nhuộm - may - thương mại hóa - logistics, với TP. Hồ Chí Minh đóng vai trò thiết lập bộ tiêu chuẩn tích hợp, vận hành chuỗi công nghiệp liên vùng. Điều này thể hiện tầm nhìn chuyển đổi từ phát triển phân tán sang hệ sinh thái sản xuất theo chức năng chuyên biệt, tối ưu hóa hiệu quả và giảm thiểu rủi ro.
Các giải pháp được nêu ra cho thấy một tầm nhìn chiến lược, tập trung vào việc tạo ra một hệ sinh thái CNHT toàn diện tại siêu đô thị TP. Hồ Chí Minh mở rộng. Việc ban hành Nghị quyết riêng, thành lập Quỹ phát triển, và xây dựng các "lồng ấp" khởi nghiệp là những bước đi thiết thực để cung cấp khung pháp lý, nguồn lực tài chính và môi trường hỗ trợ cho CNHT.
Đặc biệt, đề xuất về trung tâm kiểm định chất lượng chuẩn quốc tế là cực kỳ quan trọng, bởi chất lượng là yếu tố quyết định để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Tầm nhìn về hành lang công nghiệp xanh tích hợp cho ngành dệt may cũng là một ý tưởng đột phá. Đó không chỉ giải quyết vấn đề nội địa hóa mà còn hướng tới sự phát triển bền vững và hiệu quả theo chuỗi giá trị. Việc TP. Hồ Chí Minh đảm nhận vai trò thiết lập bộ tiêu chuẩn vận hành chuỗi liên vùng cho thấy tham vọng trở thành trung tâm điều phối, nâng tầm vị thế công nghiệp của cả khu vực.
Tuy nhiên, để những giải pháp này đi vào thực tiễn và phát huy hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ và quyết liệt từ các cấp chính quyền, các sở ban ngành, hiệp hội doanh nghiệp và đặc biệt là sự chủ động của chính các doanh nghiệp.
Thách thức lớn nhất sẽ nằm ở việc cụ thể hóa các chính sách thành hành động, thu hút vốn đầu tư chất lượng cao, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng và tạo dựng niềm tin cho các doanh nghiệp CNHT trong nước. Nếu thực hiện thành công, TP. Hồ Chí Minh mở rộng không chỉ nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc nhập khẩu mà còn khẳng định vị thế là động lực tăng trưởng công nghiệp bền vững của Việt Nam, sẵn sàng hội nhập sâu rộng hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.