hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa mang tư duy kiến tạo đột phá, hứa hẹn tháo gỡ dứt điểm các điểm nghẽn thể chế và kích hoạt dòng vốn đầu tư.
Nghị quyết số 80 của Bộ Chính trị đã xác định mục tiêu chiến lược đưa công nghiệp văn hóa đóng góp 7% GDP vào năm 2030 và nâng lên mức 9% GDP vào năm 2045. Để đạt được các cột mốc kinh tế này, hệ thống thể chế cần một cuộc cách mạng thực sự, chuyển từ tư duy quản lý sang kiến tạo và phát triển. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang được hoàn thiện chính là bước cụ thể hóa quan trọng, tạo ra hành lang pháp lý đồng bộ để giải phóng các nguồn lực còn tiềm ẩn trong xã hội.

Trụ cột đầu tiên được Dự thảo Luật chuẩn hóa một cách toàn diện là hệ thống hạ tầng công nghiệp văn hóa. Quy định mới phân định rõ bốn nhóm cấu thành bao gồm công trình hạ tầng vật chất, tổ hợp và cụm công nghiệp sáng tạo, không gian công cộng cùng hệ thống hạ tầng văn hóa số.
Theo thống kê của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, giá trị sản xuất của các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam giai đoạn 2018-2022 ước bình quân đạt gần 1,06 triệu tỷ đồng (tương đương khoảng 44 tỷ USD). Trong 5 năm, số lượng cơ sở kinh tế hoạt động trong các ngành này tăng bình quân 7,2%/năm; năm 2022 có 70.321 cơ sở đang hoạt động liên quan công nghiệp văn hóa.
Nhằm giải quyết triệt để rào cản thủ tục hành chính kéo dài, dự thảo cho phép áp dụng cơ chế chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời chấp thuận nhà đầu tư không qua đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu đối với các dự án phù hợp với quy hoạch.
Điểm nghẽn về quản lý tài sản công cũng được giải tỏa khi các bảo tàng, nhà hát, di tích lịch sử thuộc sự nghiệp công lập được áp dụng cơ chế nhượng quyền khai thác. Sự kết hợp giữa năng lực quản trị tiên tiến của khu vực tư nhân và giá trị di sản công sẽ đánh thức các tài nguyên văn hóa đang ngủ quên mà vẫn bảo tồn nguyên vẹn giá trị gốc.
Song song đó, tư duy quản lý đối với hoạt động sáng tạo được chuyển đổi mạnh mẽ từ tiền kiểm từng sự kiện sang tiền kiểm theo chu kỳ hoặc quản lý theo quy chế nội bộ. Các tổ hợp sáng tạo sẽ tự chủ vận hành dựa trên khung quy chế được phê duyệt, giúp nghệ sĩ thoát khỏi những thủ tục cấp phép rườm rà.
Nhằm bảo vệ lực lượng sáng tạo yếu thế trước sức ép thương mại hóa, luật quy định các cụm công nghiệp sáng tạo nhận hỗ trợ từ ngân sách phải dành một tỷ lệ diện tích nhất định cho các nghệ sĩ, cá nhân sáng tạo và doanh nghiệp siêu nhỏ thuê với giá ưu đãi. Đồng thời, cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cũng được thiết lập, mở đường cho việc ứng dụng các công nghệ mới trong lĩnh vực văn hóa.
Nhận diện rào cản lớn nhất của ngành công nghiệp văn hóa hiện nay nằm ở sự phân tán nguồn lực và thiếu hụt các công cụ tài chính chuyên biệt, Dự thảo Luật đã đề xuất những giải pháp mang tính cách mạng. Lần đầu tiên, mô hình đồng đầu tư được thể chế hóa, cho phép Nhà nước góp vốn đối ứng, mua cổ phần hoặc chia sẻ rủi ro với tư nhân thông qua các quỹ đầu tư mạo hiểm và hợp đồng chia sẻ doanh thu. Cơ chế này không chỉ giải bài toán vốn mồi của ngân sách mà còn tạo bộ đệm an toàn, kích thích các nhà đầu tư tư nhân tự tin rót vốn vào các dự án nghệ thuật có độ rủi ro cao.

Bên cạnh đó, các dự án đầu tư hạ tầng công nghiệp văn hóa được đưa vào danh mục ngành, nghề đặc biệt ưu đãi đầu tư, hưởng mức ưu đãi tương đương với địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Điểm đột phá nhất nằm ở việc tháo gỡ nút thắt tài sản thế chấp cho doanh nghiệp sáng tạo. Dự thảo Luật cho phép sử dụng tài sản trí tuệ để góp vốn và làm tài sản bảo đảm vay vốn ngân hàng.
Ngân hàng Nhà nước sẽ ban hành cơ chế quản lý rủi ro, bảo lãnh tín dụng dựa trên giá trị tài sản trí tuệ. Để hệ thống vận hành minh bạch, Nhà nước áp dụng mã định danh tài sản trí tuệ chuẩn quốc tế, số hóa vòng đời tài sản và quy định rõ cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho thẩm định viên nếu họ làm đúng chuẩn mực nghề nghiệp.
Đối với thị trường quốc tế, Dự thảo Luật thiết kế chính sách thu hút nhà đầu tư chiến lược nước ngoài sở hữu công nghệ lõi và mạng lưới phân phối toàn cầu thông qua các ưu đãi thuế doanh nghiệp, như miễn thuế trong 2 năm và giảm 50% trong 4 năm tiếp theo, cùng chính sách hỗ trợ chi phí cho các đoàn làm phim quốc tế chọn Việt Nam làm bối cảnh.
Ở chiều ngược lại, các startup, hộ kinh doanh và nghệ sĩ trong nước cũng được thụ hưởng chính sách bảo lãnh tín dụng, hỗ trợ chi phí chuyển đổi số và kết nối tiêu thụ. Khi các điểm nghẽn thể chế được giải tỏa hoàn toàn, năng lực sáng tạo của người Việt sẽ được khơi thông, đưa công nghiệp văn hóa trở thành một trong những trụ cột kinh tế tri thức quan trọng nhất của đất nước.
Theo dữ liệu từ Box Office Vietnam và các báo cáo thị trường điện ảnh, riêng năm 2025, doanh thu phim Việt đạt khoảng 3.650 tỷ đồng, gần gấp đôi năm 2024. Trong top 10 phim có doanh thu cao nhất, Mưa đỏ phá kỷ lục mọi thời đại khi đạt khoảng 714 tỷ đồng, trong khi 6 phim khác vượt mốc 200 tỷ đồng.