hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Việt Nam đang tập trung xây dựng khung pháp lý và hạ tầng kỹ thuật thị trường carbon, với sự cam kết hỗ trợ từ các tổ chức tài chính toàn cầu.
Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP) vừa phối hợp với Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức Hội thảo tham vấn “Đánh giá tác động thị trường carbon trong nước của Việt Nam trong giai đoạn thí điểm”.
Theo Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, để thực hiện mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu, các công cụ định giá carbon, đặc biệt là hệ thống trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính (ETS)- hay còn gọi là thị trường carbon tuân thủ là một trong các giải pháp quan trọng và hiệu quả, được nhiều quốc gia lựa chọn áp dụng trong đó có Việt Nam.
Việt Nam đã ban hành khung pháp lý cho việc vận hành thị trường carbon. Ông Quang thông tin: tại Điều 139 của Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 đã quy định về “tổ chức và phát triển thị trường carbon”. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 06/2022/NĐ-CP quy định về giảm nhẹ phát thải khí nhà kính và bảo vệ tầng ô-dôn và đang xem xét ban hành Nghị định 06 sửa đổi, bổ sung.
Theo đó, đã có quy định chi tiết về tổ chức và phát triển thị trường carbon, đặt ra lộ trình cụ thể phát triển thị trường carbon với giai đoạn thí điểm từ nay đến hết năm 2028 và vận hành chính thức từ năm 2029.
Các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về danh mục cơ sở phải thực hiện kiểm kê khí nhà kính đã được ban hành. Đặc biệt, Đề án thành lập và phát triển thị trường carbon tại Việt Nam đã cụ thể hóa các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để đưa thị trường carbon vào vận hành theo đúng lộ trình đã đề ra. Mục tiêu Đề án đặt ra sẽ vận hành thí điểm sàn giao dịch carbon Việt Nam ngay trong năm 2025.
Do đó, Hỗ trợ kỹ thuật nhằm phân tích, xây dựng mô hình và đánh giá tác động của các phương án thiết kế, quản lý khác nhau cho thị trường carbon từ đó đưa ra những khuyến nghị để Cục Biến đổi khí hậu xem xét trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các quy định pháp lý và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho việc vận hành hiệu quả thị trường trong giai đoạn thí điểm sắp tới.
Theo đại diện Phòng thị trường carbon, trong giai đoạn thí điểm, thị trường sẽ tập trung vào 3 lĩnh vực: sản xuất sắt thép, xi măng, nhiệt điện. Trong giai đoạn này chỉ các cơ sở lớn được được đưa vào thị trường carbon với dự kiến sẽ có khoảng 200 doanh nghiệp tham gia.
Để vận hành hiệu quả thị trường carbon thí điểm, các chuyên gia cho rằng cần cân nhắc các phương án thiết kế và quản lý thị trường, đánh giá tác động của từng phương án, và lựa chọn phương án tối ưu, đảm bảo hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế và mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính.
Ông John Robert Cotton, Phó Giám đốc Chương trình Đối tác chuyển dịch năng lượng Đông Nam Á (ETP) cho rằng việc đánh giá tác động thị trường carbon sẽ là nền tảng quan trọng để có thể tạo hệ thống thị trường trao đổi nội địa ETS. Điều này sẽ góp phần để Việt Nam đạt được mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050. Việc đánh giá tác động sẽ đưa ra được các tham số, các thông số, công cụ đo lường, từ đó Việt Nam có thể triển khai giai đoạn vận hành thí điểm thị trường từ năm 2025-2028, sau đó triển khai chính thức.
Phân tích bối cảnh quốc gia và đề xuất phương án quản lý thị trường carbon, bà Nguyễn Hồng Loan, Giám đốc Công ty GreenCIC cho biết có 10 bước để thiết kế và vận hành thị trường carbon, với 3 nội dung thiết kế gồm: phạm vi, thiết lập hạn mức và phân bổ hạn ngạch.
Để phân tích và lựa chọn các ngành/lĩnh vực tham gia vào ETS cần đảm bảo hài hòa lợi ích về giảm phát thải khí nhà kính với lợi ích kinh tế. Do đó, việc tiếp cận tổng thể để xác định phạm vi dựa trên 2 yếu tố chính là cường độ phát thải và cường độ thương mại. Phạm vi lựa chọn lĩnh vực thí điểm ETS của Việt Nam là các doanh nghiệp trong ngành nhiệt điện, sắt thép, xi măng.
Thông tin về đánh giá tác động của các phương án quản lý ETS giai đoạn thí điểm, nhóm nghiên cứu cho biết đã tập trung vào các tác động với 114 doanh nghiệp gồm 56 cơ sở có sản xuất clinker thuộc lĩnh vực xi măng, 27 cơ sở sản xuất thép thô và 31 cơ sở nhiệt điện, với tổng phát thải khí nhà kính chiếm gần 43% phát thải khí nhà kính quốc gia giai đoạn 2020-2022.
Đánh giá tác động cho thấy việc áp dụng ETS giúp giảm đáng kể tổng chi phí của các doanh nghiệp để đạt được các mục tiêu theo NDC trong tất cả các kịch bản. Ngành nhiệt điện giảm được chi phí tuân thủ nhiều nhất, tiếp theo là sắt thép. Ngành xi măng với lợi thế có chi phí đầu tư giảm phát thải khí nhà kính thấp hơn so với hai ngành còn lại, có thể được hưởng lợi từ cung hạn ngạch ra thị trường. Nhìn chung, chi phí đầu tư ở cả ba ngành tương đối thấp, khoảng từ 0,02% đến dưới 2% tổng đầu tư của ngành.
TS. Hồ Công Hòa, Học viện Chính sách và Phát triển chia sẻ, việc thực hiện các biện pháp nhằm mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính theo NDC đều có tác động làm giảm GDP của nền kinh tế. Tuy nhiên quy mô tác động tương đối nhỏ, chỉ từ 0,00075% đến 0,0208% GDP, trong đó kịch bản đạt được NDC không điều kiện với tỷ lệ sử dụng tín chỉ bù trừ tối đa 20% cho tác động thấp nhất đến nền kinh tế, bao gồm cả tác động đến giá tiêu dùng.
Ngoài ra, việc thực hiện ETS sẽ thúc đẩy tái cấu trúc các ngành phát thải lớn, đồng thời tạo cơ hội phát triển cho các ngành phát thải thấp và công nghệ xanh...