Chủ nhật, 24/11/2024 13:13 (GMT+7)

Thái Bình: Bảo tồn, phát huy giá trị di tích quốc gia đặc biệt gắn liền với phát triển du lịch

Phạm Hùng

Thái Bình là một trong những địa phương giàu truyền thống văn hoá. Tiềm năng, tiềm lực để xây dựng và phát triển văn hoá ở Thái Bình là vô cùng to lớn. Những giá trị văn hoá truyền thống cả vật thể và phi vật thể đủ để khẳng định Thái Bình là nơi hội tụ các sắc thái văn hoá tiêu biểu của nền vă

Bảo tồn, phát huy giá trị di tích quốc gia

 

Ngày 23/11/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL “về bảo tồn cổ tích trong toàn cõi Việt Nam”. Đây là Sắc lệnh đầu tiên của chính thể mới về bảo tồn di sản văn hóa dân tộc, đặt nền móng, kim chỉ nam, sợi chỉ đỏ xuyên suốt cho sự nghiệp bảo vệ di sản văn hóa nước nhà.

 

 Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 65/SL, sau hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập. Đây là Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta đặt nền móng cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. /Ảnh tư liệu
Ngày 23 tháng 11 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành Sắc lệnh số 65/SL, sau hơn 2 tháng sau khi nước nhà giành được độc lập. Đây là Sắc lệnh đầu tiên của Nhà nước ta đặt nền móng cho sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. /Ảnh tư liệu

 

Năm 2001, căn cứ Hiến pháp năm 1992, Quốc hội đã ban hành Luật Di sản văn hóa Việt Nam. Từ đó đến nay đã trãi qua 1 lần sửa đổi (năm 2009) và ban hành mới Luật Di sản văn hóa (2013) thay thế Luật Di sản năm 2001.

 

Xuất phát từ ý nghĩa lịch sử của Sắc lệnh số 65/SL, ngày 24/2/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 36/2005/QĐ-TTg, lấy ngày 23/11 là Ngày Di sản Văn hóa Việt Nam. Kể từ đó, ngày 23/11 trở thành ngày truyền thống của ngành di sản văn hóa, ngày hội của những người hoạt động trong lĩnh vực di sản văn hóa và những người tâm huyết với di sản văn hóa.

 

Sắc lệnh số 65/SL ra đời đến nay đã hơn 60 năm nhưng phản ánh những tư tưởng, quan điểm rất cơ bản, sâu sắc của Nhà nước ta đối với việc bảo tồn di sản văn hóa, cho đến nay vẫn giữ nguyên ý nghĩa lý luận và thực tiễn, soi sáng cho sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa của đất nước. Đó là quan điểm về vai trò quan trọng của di sản văn hóa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, về tính kế thừa trong phát triển văn hóa, về trách nhiệm của Nhà nước, xã hội và mỗi công dân trong việc bảo vệ di sản văn hóa...

 

Từ đó đến nay, công tác bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, của các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương và đã đạt được kết quả tích cực. Nhiều di sản văn hóa vật thể và phi vật thể được nghiên cứu, công nhận, bảo vệ và phát huy giá trị, qua đó, góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy lòng tự hào và ý thức tham gia của người dân trong việc bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

 

Là địa phương ven biển vùng Đồng bằng Bắc Bộ, Thái Bình có kho tàng di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đa dạng. Đây là tiềm năng lớn để phát triển du lịch. Tận dụng lợi thế này, cùng với công tác bảo tồn, gìn giữ di sản, tỉnh đã và đang từng bước khai thác giá trị văn hóa gắn với phát triển du lịch địa phương.

 

Toàn tỉnh Thái Bình hiện có 2.969 di tích đã được kiểm kê, trong đó có 2 di tích quốc gia đặc biệt, 125 di tích cấp quốc gia; có 2 bảo vật được công nhận là bảo vật quốc gia. Mỗi năm có gần 100 di tích được tu bổ, phục hồi, tôn tạo. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức rà soát, thực hiện đúng quy trình xếp hạng di tích; kiểm kê, lập hồ sơ khoa học đưa 14 di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu của tỉnh đề nghị đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

 

Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình Trương Thị Hồng Hạnh kiến nghị với Đoàn giám sát của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cần tạo cơ chế thuận lợi cho hoạt động văn hóa
Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình Trương Thị Hồng Hạnh kiến nghị với Đoàn giám sát của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội cần tạo cơ chế thuận lợi cho hoạt động văn hóa/Ảnh báo Đại biểu nhân dân

 

Các năm gần đây, Thái Bình đã hỗ trợ từ nguồn vốn đầu tư công cho công tác tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia trọng điểm với số tiền trên 150 tỷ đồng. Điều đó thể hiện sự quan tâm rất lớn của tỉnh đối với công tác tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử văn hoá trên địa bàn tỉnh.

 

Bên cạnh nguồn lực của Nhà nước, đáng chú ý là tỉnh đã huy động được nhiều nguồn lực xã hội tham gia bảo vệ, phát huy giá trị di sản văn hóa. Qua đó, hàng trăm di tích được bảo vệ, tu bổ, tôn tạo; nhiều di vật, cổ vật đã được thu thập, đăng ký, bảo quản; nhiều di sản văn hóa phi vật thể là các lễ hội đặc sắc, nghệ thuật truyền thống, văn hóa dân gian được sưu tầm, tư liệu hóa.

 

Mật độ di tích lịch sử tại Thái Bình dày và phong phú, song số lượng di tích đang bị xuống cấp chiếm tỷ lệ khá cao. Nhiều di tích ở các huyện ven biển chịu sự ảnh hưởng của điều kiện môi trường tự nhiên nên có tuổi thọ không cao, các cấu kiện gỗ bị hư hại dần theo thời gian, khi tu bổ di tích do không có kinh phí nên phải dùng chất liệu bê tông thay thế chất liệu gỗ truyền thống.

 

Kinh phí bố trí cho công tác tu bổ, tôn tạo di tích của tỉnh còn hạn chế. Từ năm 2018 đến nay ngân sách tỉnh đã bố trí trên 88,5 tỷ đồng cho các dự án tu bổ, tôn tạo các di tích và trên 14 tỷ đồng từ nguồn vốn sự nghiệp văn hóa để tu sửa cấp thiết cho 300 di tích, với mức 40 - 50 triệu đồng/di tích. Điều đó thể hiện sự quan tâm lớn của tỉnh đối với công tác tu bổ, tôn tạo các di tích trên địa bàn; nhưng trong các hồ sơ dự án, rất ít di tích được đầu tư từ ngân sách cấp huyện và cấp xã.

 

Hiện tại vẫn còn nhiều di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa nhưng vẫn gặp khó khăn trong công tác huy động nguồn lực để tu bổ, tôn tạo. Một số di tích mỗi năm thu được hàng tỷ đồng từ nguồn tiền công đức, tiền dầu nhang, nhưng chủ yếu lại sử dụng cho việc tổ chức khánh tiết, lễ hội và bộ máy quản lý di tích mà không đầu tư trở lại cho việc tu bổ tôn tạo chính di tích đó khi bị xuống cấp.

 

Mặc dù nhiều di tích được tu bổ từ nguồn xã hội hóa, nhưng nguồn vốn này tập trung ở các di tích tín ngưỡng - tôn giáo hoặc những di tích lịch sử - văn hoá và danh thắng có tiềm năng khai thác du lịch cao. Trong nhiều trường hợp, chất lượng trùng tu, phục hồi rất khó quản lý. Còn xảy ra hiện tượng làm mới di tích, tô vẽ lại tượng cổ, cúng tiến hiện vật không phù hợp vào di tích...

 

Theo đó, chiều ngày 14/11, làm việc với Đoàn giám sát của Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thái Bình đề nghị kiến nghị tỉnh bố trí kinh phí thực hiện Đề án bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa trên địa bàn tỉnh. Quan tâm bổ sung ngân sách của tỉnh, nâng mức hỗ trợ tu sửa cấp thiết di tích từ 50 triệu đồng/di tích như hiện nay lên 100 triệu đồng/di tích. Đầu tư tu bổ, tôn tạo các di tích trọng điểm của tỉnh như chùa Keo, đền Trần...

 

Phát triển du lịch gắn liền với hệ thống Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt

 

Khi đến với Thái Bình du khách không chỉ được chiêm ngưỡng nét độc đáo, lối kiến trúc cổ của các Di tích lịch sử, được tham gia các lễ hội xuyên suốt trải dài từ đầu năm, mà đặc biệt còn được tham gia trải nghiệm các hoạt động văn hóa dân gian như các trò chơi, trò diễn dân gian rất đặc sắc trong các lễ hội – tạo điểm nhấn và ấn tượng cho du khách. Giờ đây, các trò chơi dân gian không chỉ được tổ chức ở các lễ hội, mà các công ty du lịch cũng đã đưa vào lịch trình của mình - bởi trò chơi dân gian là món ăn tinh thần không thể thiếu của người dân từng vùng miền, từng dân tộc, phù hợp với tất cả các đối tượng, các lứa tuổi. Có những công ty lữ hành coi đó như một sản phẩm du lịch mới, độc đáo mang đến trải nghiệm thú vị, hấp dẫn cho du khách.

 

Thái Bình với 58 trò chơi, trò diễn dân gian phân bố hầu khắp trên các địa bàn của tỉnh. Với những loại hình nổi tiếng có thể kể đến như : Chèo, múa rối nước, múa giáo cờ giáo quạt, múa bát dật, múa kéo chữ, múa ông Đùng bà Đà, hội thi Sáo Đền,…hay các trò chơi rất quen thuộc như múa sạp, đánh pháo đất, bơi chải, múa lân, hát chầu văn… đây chính là yếu tố giúp tăng sự đặc sắc trong mỗi chuyến đi, cũng như sự gắn kết giữa các du khách và với người dân bản địa. Nói đến vùng quê lúa Thái Bình du khách sẽ được đắm chìm trong các làn điệu chèo với các trang phục : áo bà ba, áo tứ thân, áo the, quần chùng, khăn đống, những loại nhạc cụ như : trống cái, trống chèo, mõ, nhị. Hay như các điệu múa sạp du khách sẽ được hòa mình vào không khí vui tươi, cùng đứng thành hai hàng, những bước chân dậm nhảy trong sạp theo nhịp nhạc, với đạo cụ là những cây tre làm khung sạp, hoa, khăn…kế bên là mọi người cùng tham gia và cổ vũ… Tất cả đều cuốn hút du khách bởi sự đơn giản không cầu kỳ, nhất là trong nhịp sống của xã hội hiện đại, các trung tâm đô thị lớn, các bậc cha mẹ luôn bận rộn với công việc nên ít có thời gian cùng trẻ nhỏ làm quen với các trò chơi dân gian nên việc giúp các em hiểu và tìm về cội nguồn lại một việc làm rất cần thiết, sẽ góp phần bồi đắp tình yêu và niềm tự hào về truyền thống văn hóa của dân tộc đã và đang được giữ gìn qua nhiều thế hệ.

 

Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Keo

 

Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Keo (huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình)/Ảnh Cục di sản
Di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Keo (huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình)/Ảnh Cục di sản

 

Chùa Keo là một trong những ngôi chùa cổ ở Việt Nam được bảo tồn hầu như nguyên vẹn. Với quy mô rộng lớn gồm nhiều công trình bề thế, chùa Keo được đánh giá là một kiệt tác nghệ thuật bằng gỗ, minh chứng cho sự tài hoa của những nghệ nhân.

 

Theo tư liệu lịch sử, năm Tân Sửu, niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh thứ 3 (1061) đời Lý Thánh Tông dựng chùa Nghiêm Quang trên đất Giao Thuỷ (làng Keo/ấp Keo), thuộc Nam Định ngày nay. Tháng 3 năm Đinh Hợi, niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 5 (1167) đời Lý Anh Tông, chùa này được đổi tên thành chùa Thần Quang. Năm Tân Hợi (1611), một trận lụt lớn làm chùa bị trôi dạt, dân ấp Keo phải di dời đi 2 nơi: một bộ phận định cư ở phía Đông Nam - hữu ngạn sông Hồng (nay thuộc làng Hành Thiện, xã Xuân Hồng, huyện Xuân Trường, Nam Định); một bộ định cư ở phía Đông Bắc - tả ngạn sông Hồng (nay thuộc thôn Hành Dũng Nghĩa, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình). Như vậy, sau năm 1611, làng Keo (gốc ở Nam Định) được chia thành hai làng. Sau đó, hai làng dựng lại chùa, tên Nôm đều gọi là “chùa Keo”. Để phân biệt, dân gian thường gọi chùa Keo ở Thái Bình là Keo Thái Bình hoặc Keo trên; chùa Keo ở Nam Định là Keo Nam Định hoặc Keo dưới. Chùa Keo Thái Bình được dựng năm 1632, tên chữ là Thần Quang tự.

 

Ngoài chức năng thờ Phật, chùa Keo Thái Bình cũng như chùa Keo Nam Định còn là nơi thờ Thánh Dương Không Lộ và những người có có công lớn trong việc dựng chùa (Trịnh Thị Ngọc Lễ, Hoàng Nhân Dũng, Trần Thị Ngọc Duyên, Lê Hồng Quốc, Nguyễn Văn Trụ).

 

Trước Cách mạng tháng 8(1945), chùa Keo (Thái Bình) thường mở hội 2 lần trong một năm. Hội xuân được tổ chức ngày mùng 4 tháng Giêng, mang tính chất của một lễ hội nông nghiệp. Ngoài các nghi lễ thông thường, trong hội còn có nhiều trò đặc sắc, như thi nấu cơm, thi ném pháo, thi bắt vịt, trong đó, thi nấu cơm được coi là hoạt động trung tâm của hội. Hội tháng 9 được tổ chức vào ngày 13 đến ngày 15, gắn với ngày sinh (13/9), ngày mất (14/9) của Thánh Dương Không Lộ và một số lễ nghi gắn với Phật giáo.

 

Chùa Keo Thái Bình gồm 21 hạng mục lớn, nhỏ (154 gian). Trải qua trên 300 năm, chùa đã được tu bổ, tôn tạo nhiều lần, vào các năm 1689, 1707, 1941, 1957, 2004. Xét về quy mô, bố cục, đặc điểm và nghệ thuật kiến trúc, có thể coi chùa Keo (Thái Bình) là một trong những công trình sáng giá nhất trong hệ thống chùa dạng thức “tiền Phật hậu Thánh” cũng như dạng thức chùa “trăm gian” ở Việt Nam.(1)

 

Về nơi đây, du khách còn được chiêm ngưỡng gần 100 pho tượng nguyên tác với những dáng vóc sống động, dung dị, tuân thủ nguyên tắc vừa cao siêu linh ứng vừa gần gũi hòa đồng không cách ngăn thế tục nhân gian; những cỗ ngai, khám sơn son thếp vàng, lọng vàng tán tía, bát biểu chấp kích, rồng bay, phượng múa, ngựa bạch, ngựa hồng, kiệu rước cùng những đại tự hoành phi câu đối sắc màu rực rỡ, những hoa văn cách điệu độc đáo... được tạo nên từ bàn tay tài hoa của người nghệ nhân.

 

Với niềm tự hào sâu sắc về di sản văn hóa được các bậc tiền nhân trao truyền và tiếp nối, lễ hội chùa Keo ngày càng được các tầng lớp nhân dân chung tay bảo tồn, phát huy. Tiếp tục quảng bá hình ảnh, các giá trị kiến trúc, nghệ thuật, văn hóa đặc sắc tới du khách gần xa, lễ hội chùa Keo mùa thu năm 2024 được tổ chức quy mô cấp huyện trong 8 ngày, từ ngày 12 - 19/10 (10 - 17/9 năm Giáp Thìn) thay vì 6 ngày như hàng năm. Bên cạnh các nghi thức tế lễ cổ truyền như lễ khai chỉ, lễ dâng hương, lễ rước Đức Thánh còn có những nghi thức được phục dựng, bảo lưu như múa rối hầu Thánh, hầu đồng.

 

Là điểm đến du lịch văn hóa tâm linh không thể bỏ lỡ trên miền quê lúa Thái Bình, di tích quốc gia đặc biệt chùa Keo và di sản văn hóa phi vật thể quốc gia lễ hội chùa Keo trải qua hàng trăm năm lịch sử không chỉ đóng vai trò quan trọng đối với phát triển du lịch nội tỉnh mà còn góp phần tô đậm những giá trị truyền thống văn hóa, văn hiến, yêu nước và cách mạng. Đồng thời, thông qua các kỳ lễ hội hàng năm đã thiết thực giới thiệu tiềm năng, lợi thế cho sự phát triển các tour, tuyến du lịch, mời gọi các nhà đầu tư về với Thái Bình, đóng góp vào phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

 

Đền thờ vua Trần - Di tích văn hóa tâm linh đặc sắc

 

Lịch sử Việt Nam ghi nhận, vương triều nhà Trần tồn tại trong lịch sử Việt Nam với 14 đời vua, kéo dài và tỏa sáng 175 năm. Đây là triều đại phát triển rực rỡ nhất trong tiến trình lịch sử phong kiến Việt Nam, với 3 lần đánh thắng quân xâm lược Nguyên Mông hùng mạnh, làm nên hào khí Đông A; với nhiều vị vua anh minh như: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông và rất nhiều danh tướng kiệt xuất như: Trần Thủ Độ, Trần Hưng Đạo, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư…

 

Thái Bình là vùng đất phát tích, hưng nghiệp của vương triều Trần, là nơi vua Trần Thái Tông được sinh ra, gia tộc nhà Trần dựa vào đây mà dấy nghiệp. Các vua Trần đã cho xây dựng hành cung Long Hưng, hành cung Lỗ Giang để tổ chức những đại lễ mừng chiến thắng và Tam Đường là nơi lưu giữ hài cốt của các tổ tiên Triều Trần như: Thủy tổ Trần Kình, Thái tổ Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý, Thái thượng hoàng Trần Thừa… Khi các vị vua và hoàng hậu băng hà thì có tới trên một nửa được an táng tại quê nhà và đều được xây lăng miếu phụng thờ, trong đó Thái Đường Lăng là nơi an nghỉ vĩnh hằng của các vị vua đầu triều như Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Trần Nhân Tông. Các hoàng hậu khi qua đời được quy về hợp táng tại các lăng mộ như Thọ lăng, Chiêu Lăng, Quy Đức lăng.

 

Đền thờ vua Trần - Di tích văn hóa tâm linh đặc sắc của Thái Bình/ Ảnh vietgoing
Đền thờ vua Trần - Di tích văn hóa tâm linh đặc sắc của Thái Bình/ Ảnh vietgoing

 

Từ năm 1999, một dự án đã được phê duyệt, và ngày 5-12-2000, tỉnh Thái Bình, đã tổ chức lễ khởi công trùng tu tôn tạo Khu Di tích đền thờ, lăng mộ  các vua Trần ở làng Tam Đường (Thái Đường xưa). Ngày 23-4-2003, Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình tổ chức dâng hương, khánh thành công trình trên, gọi tắt là: Khu Di tích Đền Trần Thái Bình.

 

Tổng thể toàn khu di tích có diện tích là 22ha. Trên diện tích 5175m2, đền thờ các vua Trần và đền thờ Đức thánh Trần Hưng Đạo đã được xây dựng công phu, uy nghi bề thế, tọa lạc trên nền phế tích nằm giữa trung tâm xã Tiến Đức, gồm các hạng mục: Sân hành lễ; Tam quan kiểu tứ trụ có mái rộng; tòa Bái đường có 3  gian hai chái hình chữ nhật có qui mô dài 22,5m và rộng 12m; tòa Hậu cung có bố cục hình chữ “Đinh”, gồm 2 tòa 8 gian trên diện tích 359m2; hai nhà Giải vũ 5 gian; sân đền có diện tích 830m2, dựng cột cờ cao 8m; hai hố sen kè gạch đối xứng hai bên đền có diện tích trên 300m2. Ngoài ra còn có nhà trưng bày hiện vật Thời Trần, nhà bia và khu tượng đài Chiến thắng chống Nguyên - Mông.

 

Phía trước khu đền thờ các vua Trần và đền thờ Trần Hưng Đạo là ba ngôi mộ lớn đã được trùng tu tôn tạo. Đó là mộ của 3 vị vua đầu triều Trần là Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Trần Nhân Tông - như 3 quả núi nằm tại cánh đồng làng Tam Đường.(2)

 

Ngày 16/9/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần nhằm bảo tồn, tôn tạo, phục hồi Di tích quốc gia đặc biệt tương xứng với vai trò của vương triều Trần trong lịch sử dân tộc và phát huy giá trị khu di tích, các khu vực khảo cổ có liên quan trở thành điểm du lịch văn hóa hấp dẫn đối với du khách khi về thăm Thái Bình. Từ đó, kết nối quần thể các điểm di tích gắn với vương triều Trần ở Thái Bình với các di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh nổi tiếng khác trong vùng tạo thành chuỗi sản phẩm du lịch phong phú, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của huyện Hưng Hà nói riêng, tỉnh Thái Bình nói chung.

 

Lễ hội Đền Trần Thái Bình được tổ chức từ ngày 13 đến 18 tháng Giêng Âm lịch hàng năm nhằm tôn vinh công lao dựng nước của nhà Trần trong lịch sử nước nhà, có tổ chức nhiều hoạt động rước lễ, vui chơi thú vị.

 

Phần lễ nổi tiếng với lễ rước nước, lễ giao chạ, lễ tế mở cửa đền, lễ bái yết, tế mộ. Lễ rước nước là hoạt động trước khi diễn ra lễ khai hội Đền Trần. Nước phải được lấy ở ngã ba tam tỉnh nơi có sự giao thoa giữa ba dòng sông là sông Luộc, sông Hồng, sông Thái Bình rồi đổ về của biển. Lễ rước này thể hiện đặc tính đời sống gắn bó với sông nước của người dân Thái Bình. Các vị tổ tiên nhà Trần thường ghép tên mình với một loại cá như Trần Kinh nghĩa là cá kình, Trần Hấp nghĩa là cá trắm, Trần Lý là cá chép, Trần Thừa là cá nheo và Trần Thị Dung là cá ngừ.

 

Sau hơn 10 năm thực hiện Nghị quyết số 103-NQ/HU, ngày 10/12/2009 của Ban Chấp hành Đảng bộ huyện về đẩy mạnh phát triển du lịch giai đoạn 2010 - 2015 và định hướng đến năm 2020, hoạt động du lịch trên địa bàn huyện Hưng Hà có nhiều kết quả tích cực. Trong đó, đã từng bước hình thành các điểm, tuyến du lịch gắn với các di tích lịch sử văn hóa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các địa phương. Hoạt động du lịch đã từng bước đi vào nền nếp, tại một số điểm du lịch đã có tổ thuyết minh giới thiệu về những sự kiện lịch sử liên quan đến di tích, qua đó tạo điều kiện cho du khách thập phương, nhân dân địa phương có thêm hiểu biết về giá trị, ý nghĩa của các điểm du lịch, công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di tích trong đời sống đương đại.

 

Hiện nay, huyện Hưng Hà đang xây dựng nghị quyết về đẩy mạnh phát triển du lịch tầm nhìn đến năm 2030. Sự vào cuộc tích cực của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự đồng tình, hưởng ứng của các tầng lớp nhân dân cùng tiềm năng, lợi thế sẵn có, đặc biệt với khu lăng mộ và đền thờ các vị vua triều Trần tại xã Tiến Đức là điểm đến nổi tiếng cùng với lễ hội theo quy mô cấp tỉnh diễn ra hàng năm sẽ đưa du lịch sớm trở thành ngành kinh tế quan trọng gắn với phát triển dịch vụ, thương mại trên địa bàn huyện.

 

 

*Ghi chú:

(1). https://dsvh.gov.vn/di-tich-kien-truc-nghe-thuat-chua-keo-huyen-vu-thu-tinh-thai-binh-2964

(2). http://thegioidisan.vn/vi/vung-dat-phat-tich-vuong-trieu-tran-va-khu-di-tich-den-tran-thai-binh.html