Thứ năm, 03/06/2021 00:00 (GMT+7)

Thách thức đối với nông sản khi xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những thị trường xuất khẩu nông sản hàng đầu của Việt Nam. Tuy nhiên hiện nay, công tác mở cửa các sản phẩm nông sản Việt tại thị trường này đang vấp phải không ít khó khăn thách thức.

Trong nhiều năm qua, Trung Quốc luôn là một trong những thị trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, đặc biệt là các sản phẩm nông sản. Nhóm hàng nông sản xuất khẩu sang Trung Quốc chiếm 27% tổng kim ngạch xuất khẩu nông, thủy sản và 30% tổng hàng hóa xuất khẩu sang thị trường này. Trong giai đoạn 2010 – 2020 tốc độ kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc đạt bình quân 14,3%. Trong đó một số mặt hàng chiếm thị phần hàng đầu như cao su, lương thực, rau quả, chè, thủy sản, cà phê, hạt điều…

Tuy nhiên đối với công tác mở rộng thị trường tại nước này, hiện nông sản Việt Nam đang vấp phải không ít khó khăn thách thức. Các loại sản phẩm chăn nuôi của nước ta như thịt lợn, tổ yến, thịt gà… có chất lượng tốt cùng với nhiều chủng loại trái cây nhiệt đới phong phú đa dạng. Song việc Trung Quốc chấp nhận mở cửa thị trường, cho phép được xuất khẩu chính thức sang nước này còn rất hạn chế nên nông sản nước ta chưa thể phát huy được hết lợi thế về nguồn cung cũng như khai thác tốt thị trường đầy tiềm năng này.

Đơn cử, chỉ có 9 loại trái cây Việt Nam được phía Trung Quốc nhập khẩu trong khi đó Thái Lan có tới 22 loại. Bên cạnh đó, hiện nay các sản phẩm nông, thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc cũng phải đáp ứng nhiều yêu cầu chặt chẽ, ngặt nghèo hơn so với trước đây cả về chất lượng, nguồn gốc và quy cách đóng gói.

Ảnh: nông sản Việt Nam tại thị trường Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn
Nông sản Việt Nam tại thị trường Trung Quốc còn gặp nhiều khó khăn

Nhiều mặt hàng của Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm nông sản cùng loại từ các nước khác có nguồn cung tương tự đang tiêu thụ tại Trung Quốc hay với chính các sản phẩm nông sản của quốc gia này.

Trong khi đó, công tác xây dựng, đăng ký thương hiệu cho các sản phẩm nông sản nước ta tại Trung Quốc chưa được quan tâm, chú trọng đúng mức. Các sản phẩm được phân phối tại thị trường Trung Quốc vẫn chủ yếu thông qua kênh thương mại truyền thống, chưa chú trọng vào các kênh thương mại điện tử để có thể thâm nhập sâu và tạo độ phủ sóng cao thị trường tiêu dùng nội địa tiềm năng của nước này

Nông sản Việt cũng vướng phải nhiều “điểm nghẽn” trong chế biến, logistic. Nước ta có trên 7.500 doanh nghiệp chế biến nông lâm thủy sản quy mô công nghiệp gắn với xuất khẩu và hàng vạn cơ sở chế biến nhỏ lẻ, hộ gia đình có khả năng chế biến, sơ chế bảo quản khoảng 120 triệu tấn nguyên liệu mỗi năm. Tuy nhiên, phương pháp bảo quản còn đơn giản, lạc hậu, tình trạng tổn thất sau thu hoạch còn lớn (dao động từ 10-25%); sản phẩm sơ chế có giá trị gia tăng thấp chiếm đến 70-80%; sản phẩm có tính tiện dụng cao như làm sẵn, ăn liền còn thấp chưa cao.

Trong khi đó, chi phí logistics cho xuất khẩu nông sản trung bình chiếm tỷ lệ khá cao so với các nước trong khu vực (khoảng 20-25%). Dịch vụ logistics phát triển ở những thành phố lớn, nhưng lại chậm phát triển ở một số nơi được coi là vựa nông sản như Đồng bằng sông Cửu Long.

Giá thành sản phẩm bị đội lên một phần là do chưa biết cách tận dụng, khai thác dịch vụ vận tải đường sông thay cho đường bộ.

Cả nước có 4.000 DN dịch vụ logistics. Trong đó, 88% là các DN trong nước, 10% là DN liên doanh và 2% là DN 100% vốn nước ngoài. Doanh nghiệp trong nước quy mô nhỏ lẻ, phân tán, chủ yếu làm đại lý hoặc đảm nhận từng công đoạn trong chuỗi dịch vụ logistics quốc tế trong khi doanh nghiệp nước ngoài có số lượng ít nhưng chiếm giữ thị phần lớn…

Phan Huy – Liên Liên